Không có đức tin, đại kết chỉ là một giao kèo mang tính xã hội

“Động lực của công việc đại kết phải được khởi đầu từ ‘sự đại kết thiêng liêng,’ đó chính là ‘linh hồn của phong trào đại kết’ mà người ta có thể tìm được nhờ tinh thần cầu nguyện, nhờ đó chúng ta có thể ‘mọi người nên một.’ ”

 

Không có đức tin, đại kết chỉ là một giao kèo mang tính xã hội
 

Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI tiếp kiến các thành viên trong phiên họp khoáng đại của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, trong đó có Đức Hồng Y Bộ Trưởng William Joseph Levada và nhiều vị vốn là trợ tá của ngài khi ngài còn là Bộ Trưởng của Thánh Bộ này suốt 24 năm cho tới khi đắc cử Giáo Hoàng năm 2005.

Ngài nói: “Được gặp chư huynh trong phiên họp khoáng đại này luôn luôn là một niềm vui đối với tôi, và tôi luôn luôn đánh giá cao sự phục vụ mà chư huynh đóng góp cho Giáo Hội đặc biệt cho Người Kế Vị thánh Phêrô trong sứ vụ của người là củng cố đức tin của anh em mình.”

Đức Thánh Cha cho biết sự sa sút trong đức tin của nhân loại đang là mối quan tâm của Ngài. Ngài cho biết thêm ưu tiên hàng đầu của Giáo Hội hiện nay phải là một cuộc canh tân trong đức tin, và đặc biệt đó chính là lý do Ngài đặt năm 2012 này là Năm Đức Tin.

Ngài nói: “Tôi hy vọng rằng với sự cộng tác nhiệt thành của mọi thành phần Dân Chúa, Năm Đức Tin sẽ góp phần làm cho Thiên Chúa hiện diện trở lại trong thế giới.”

Đề cập tới việc đối thoại đại kết Đức Thánh Cha nói đây là một “công việc liên quan gần gũi với tác vụ của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin”: “Động lực của công việc đại kết phải được khởi đầu từ ‘sự đại kết thiêng liêng,’ đó chính là ‘linh hồn của phong trào đại kết’ mà người ta có thể tìm được nhờ tinh thần cầu nguyện, nhờ đó chúng ta có thể ‘mọi người nên một.’ ”

Đức Thánh Cha nhận định sự dửng dưng và chủ nghĩa tương đối cũng đặt ra một mối nguy hiểm, đặc biệt trong hoạt động hướng về sự hiệp nhất kitô hữu. Sự đại kết đích thực chính là “nơi đức tin con người tìm thấy chân lý.” “Không có đức tin, toàn bộ hoạt động đại kết bị giảm trừ thành một hình thức giao kèo mang tính xã hội mà thôi.”

Trong khi hoạt động cho hiệp nhất kitô giáo không thể không hiệp nhất với nhau trong nhưng vấn đề như sự sống con người, đạo đức sinh học, gia đình, giới tính, tự do, công lý và hoà bình.

(nguồn: romereports.com)

 

 

Tại sao Giáo hội tuyên phong các vị Tiến sĩ Hội Thánh?

 
 

WHĐ (10.10.2012) / La-Croix – Chúa nhật 7 tháng Mười vừa qua, Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI đã tuyên bố thánh nữ Hildegard Bingen (1098-1179) và thánh Gioan Avila (1499/1500-1569) là Tiến sĩ Hội Thánh. Như vậy, số các Thánh Tiến sĩ từ nay là 35 vị. Cha François-Marie Léthel thuộc dòng Camêlô và là tham vấn viên các án Phong thánh, cho biết ý nghĩa của quyết định này.

Tiến sĩ Hội Thánh không phải là những vị siêu thánh. Nếu thế, thánh Phanxicô Assidi hẳn phải là một trong số các vị siêu thánh – vì ngài vẫn còn tác động trên Giáo hội và dân Chúa và lại được cả người ngoài Giáo hội yêu quý. Nhưng ngài lại không được tuyên phong là Tiến sĩ Hội Thánh.

Tiến sĩ Hội Thánh là những vị thánh đã để lại nhiều tác phẩm, trong đó, các ngài triển khai một học thuyết nổi bật đem lại một điều gì đó mới mẻ về đức tin có liên quan đến nhiều người Kitô hữu. Như vậy, con số các Thánh Tiến sĩ có giới hạn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mọi Kitô hữu đều được mời gọi nên thánh

Khi mời gọi mọi người Kitô hữu nên thánh dù ở bậc sống nào, Công đồng Vatican II đã tạo nên một bước ngoặt. Nhiều dung mạo mới đã được giới thiệu. Sau Công đồng, lần đầu tiên Đức Thánh Cha Phaolô VI đã công bố hai thánh nữ là Tiến sĩ Hội Thánh: cho đến lúc ấy, chỉ có những vị thánh làm thần học mới được xem là những người có nhiều hiểu biết về Thiên Chúa.

Sau Công đồng, Giáo hội đã nhìn nhận rằng ở đâu có sự thánh thiện, ở đó có sự hiểu biết về Thiên Chúa. Thánh nữ Catarina Siena hẳn là một người ít học, nhưng lại có những điều để về Thiên Chúa và ngài đã nói một cách tuyệt vời.

Thánh Têrêsa Avila không phải là một nhà trí thức, nhưng ngài đã viết nhiều từ chính kinh nghiệm của ngài. Khi công bố các ngài là Tiến sĩ Hội Thánh, Đức giáo hoàng Phaolô VI đã đưa khoa học tình yêu vào thần học, vốn đang bị đe dọa chỉ còn là một thứ khoa học của lý trí. Đức Gioan Phaolô II rồi Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI cũng đi theo con đường này.

Đầu óc và trái tim

Giáo huấn của các Tiến sĩ Hội Thánh có thể có các dạng thức khác nhau, Đức Gioan Phaolô II giải thích rất rõ trong tông thư Novo Millennio ineunte (6/1/2001): “Cùng với việc nghiên cứu thần học, chúng ta có thể có được một sự trợ giúp đúng đắn từ di sản lớn lao là ‘nền thần học sống’ do các thánh để lại”.

Trong số các ngài, một số vị như thánh Anselmô hay thánh Tôma Aquinô đậm tính cách trí thức hơn, một số vị khác lại thiên về tính cách thiêng liêng hơn, như thánh nữ Têrêsa Lisieux, rất ‘thành thạo về khoa học Tình Yêu’ - theo lời Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II.

Vào năm 2011, tôi được mời tới giảng tĩnh tâm mùa Chay cho Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI. Tôi lấy lại bức họa của Fra Angelico về cuộc tập họp các thánh trong buổi Phán xét chung và chỉ thánh nữ Têrêsa nhỏ bé đang chìa tay cho thánh Anselmô và thánh Tôma Aquinô. Và khi kết thúc cuộc tĩnh tâm, Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI đã nói với tôi: “Khoa học đức tin và khoa học tình yêu bổ túc cho nhau, bộ óc lớn và con tim vĩ đại cùng đi với nhau, tình yêu lớn đi xa hơn là lý trí thuần túy”.

Việc công bố hai vị Tiến sĩ mới của Hội Thánh là dịp để khám phá hai dung mạo tốt lành: thánh Gioan Avila, một trong những vị thánh lớn của Tây Ban Nha, chứng từ về một linh đạo tư tế tốt đẹp ; và thánh nữ Hildegard, nữ tu dòng Biển Đức, là một nhà thần bí lớn người Đức thời Trung cổ. Hai nhà chú giải Tin Mừng này có một sự hiểu biết sâu sắc về con người Đức Giêsu và về trái tim con người”.

Do Martine de Sauto ghi