Suy niệm Lời Chúa
Các bài suy niệm Chúa Nhật 25 TN Năm B
Đăng lúc: 12:54 | 22/09/2018
Lượt xem: 52
Bằng cách lấy một em bé làm điển hình, Đức Giêsu muốn tất cả chúng ta hiểu rằng cộng đoàn Kitô hữu phải đặt những người không đáng kể, những người nghèo nhất, tại trung tâm của các mối quan tâm của họ, của sự bận tâm của họ. Chúng ta có thể yêu thương, “ôm lấy” những con người bị loại trừ, như thánh Phanxicô Assisi ngày xưa đã ôm hôn người phong cùi chăng?
Các bài suy niệm Chúa Nhật 25 TN Năm B

Các bài suy niệm Chúa Nhật 25 TN Năm B

Mc 9,30-37

 

1. Theo Chúa phải khiêm nhường phục vụ

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

Sau khi thăm dò ý kiến dân chúng về chính con người của mình, Chúa Giêsu quay sang hỏi các môn đệ, và nhận được phản hồi từ Phêrô tuyên xưng: “Thầy là Đấng Kitô” (Mc 8, 29). Chúa Giêsu bắt đầu mạc khải cho các ông biết Người là “Người Tôi Tớ đau khổ” được Isaia loan báo cũng Đavít đã nói trong Thánh Vịnh 22 (21). Người Tôi Tớ ấy: “Sẽ phải chịu đau khổ nhiều…bị giết đi” (Mc 8, 31).

Các môn đệ kia không biết các ông có hiểu hay có ý kiến gì không, vì không thấy ai nói gì? Còn Phêrô, vì không chấp nhận mạc khải ấy nên đã bị khiển trách nặng nề: “Satan, hãy lui đi” (Mc 8, 33). Nhưng với tình thầy trò, Chúa Giêsu tiếp tục dạy dỗ các ông nhiều điều, dẫn các ông lên một ngọn núi cao và biến hình trước mặt các ông, để củng cố niềm tin của các ông trước cuộc Khổ Nạn sắp tới.

Bài học về sự phục vụ

Sau khi biến hình, thầy trò xuống núi, trở lại với các môn đệ kia, Chúa Giêsu lại tiếp dục dạy dỗ các ông lần thứ hai: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người ta và họ sẽ giết Người. Khi đã bị giết, ngày thứ ba, Người sẽ sống lại”. Marcô ghi rõ: “Nhưng các ông không hiểu lời đó và sợ không dám hỏi Người” (Mc 9, 10), nghĩa là có Phêrô, Giacôbê và Gioan vừa chứng kiến cảnh Thầy biến hình, vậy mà các ông vẫn không hiểu, vì không hiểu nên các ông mới hỏi nhau: “Từ trong cõi chết sống lại nghĩa là gì?” (Mc 9,10) Và cũng từ sự không hiểu biết này dẫn đến cuộc cãi vã dọc đường (x. Mc 9, 34), tệ hơn nữa Giacôbê và Gioan đến xin Chúa Giêsu cho được một ngồi bên tả, một ngồi bên hữu Thầy (x. Mc 10, 35). Câu trả lời của Chúa Giêsu thật mạnh mẽ: “Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người” (Mc 9, 35); Và Người nói tiếp: “Cũng vậy, Con Người đến không phải để được người ta hầu hạ, nhưng để hầu hạ và hiến mạng sống cho nhiều người” (Mc 10, 45).

Bài học về sự khiêm nhường

Khiêm nhường đón tiếp cả trẻ nhỏ và trở nên người rốt hết phục vụ mọi người, là điều Chúa Giêsu muốn các môn đệ của mình phải noi theo. Kiêu ngạo sẽ biến người ta trở thành kẻ tự phụ, đề cao mình không đúng mức, hoặc khinh dể kẻ khác, tìm cách hạ người khác xuống để mình được tôn lên. Người kiêu ngạo hay khoe khoang và có thái độ tự đắc, rất ham thích địa vị và tiếng khen, muốn được phục vụ và không phục thiện. Ai không đồng ý kiến, hay nói lời khinh chê, thì họ tỏ thái độ buồn giận bực tức và tìm cách trả thù. Hậu quả là kẻ kiêu ngạo bị Thiên Chúa đối địch và người đời ghen ghét.

Kinh Thánh dạy rằng: “Thiên Chúa chống đối kẻ kiêu ngạo và ban ơn cho người khiêm tốn” (x. Gc 4,6). Kẻ kiêu ngạo không những bị Thiên Chúa đối địch mà còn bị người đời ghét bỏ và xa tránh. Bị người đời chống lại đã nguy hiểm, phương chi bị Thiên Chúa đối địch thì khủng khiếp biết bao, khốn nạn biết chừng nào. Có lời Chúa phán “Kẻ nào tự nhắc mình lên sẽ bị hạ xuống, và kẻ nào tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên” (Mt 23,12)… Nếu như bạn có điều gì tốt, hãy nhận về bạn, nhưng đừng quên lỗi lầm của bạn; đừng thổi phồng những gì hôm nay bạn đã làm tốt, đừng loại sự xấu gần đây và trong quá khứ; nếu điều hiện tại mang lại cho bạn hư vinh, hãy nhớ quá khứ; đây là cách bạn nhận ra sự kém cỏi của mình!

Và nếu bạn thấy lỗi lầm của tha nhân, hãy thận trọng coi như lỗi này ở trong anh em, nhưng cũng phải suy nghĩ về những gì tốt anh em đang làm hoặc đã làm ; nếu bạn duyệt toàn bộ cuộc sống của bạn và không tính toán chi li, thì theo lẽ thường, bạn sẽ khám phá ra điều tốt nơi mình. Thiên Chúa không để ý đến từng li từng tí của con người… chúng ta phải luôn nhắc nhủ nhau rằng, đừng có kiêu ngạo, hãy ăn ở khiêm hường và hạ mình xuống để được nhấc lên.

Chúng ta hãy noi gương Chúa Giêsu, Đấng đã từ trời hạ mình xuống… Nhưng sau khi tự hạ, Người đã được tôn vinh, những người bị ngược đãi như các môn đệ đầu tiên, hay những người nghèo khổ, đói rách, trần truồng, đi khắp thế gian, không lời khôn ngoan, không đánh trống phô trương, nhưng nhiệt thành làm việc, lang thang trên đất và trên biển, bị đánh đập, bị ném đá, bị trục xuất và cuối cùng bị giết cũng được tôn vinh với Người.

Chúng ta cũng vậy, hãy bắt chước họ và bước theo để được vào nơi đầy ánh sáng và vinh quang đời đời, đây là món quà tốt hảo và chân thật Thiên Chúa dành cho những ai đi theo đường lối Người.

Lạy Chúa Giêsu khiêm nhường và hiền lành, xin giúp chúng con dẹp tính khoe khoang, cậy mình và năng nhớ lời Chúa dạy: “Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người” (Mc 9, 35). Amen.

 

2. Hình thành chính mình qua chọn lựa

(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)

Kẻ ác người lành, khác nhau một trời một vực, nhưng lành dữ là do quyết định chọn lựa của mỗi người. Chọn Thiên Chúa là chọn tha nhân và chính mình; chỉ chọn mình là hủy hoại tất cả.

1. Người công chính bị kẻ dữ ám hại

Sách Khôn Ngoan cho biết những người không tôn thờ Thiên Chúa tìm mưu bày kế hãm hại người công chính, vì người công chính chống lại cách sống của họ, khiển trách họ vi phạm lề luật, tố cáo họ gian dối kiếm lời. Cách sống của người không tôn thờ Thiên Chúa, đã không đặt Chân Thiện Mỹ làm tiêu chuẩn sống. Tiêu chuẩn sống của người không tôn thờ Thiên Chúa là lợi ích cho chính họ; họ không tôn trọng người khác và quyền lợi của những người này, thậm chí cả của những người thân. Những người không sống theo Chân Thiện Mỹ là những người ích kỷ: chỉ nghĩ đến họ, đến quyền lợi của họ.

Tiên tri Yêrêmia là người đã bị những người không thật sự tôn thờ Thiên Chúa thời đó hãm hại, vì tiên tri nói những gì Thiên Chúa đã truyền cho ông nói. Và vì nói những gì không hợp với ý muốn của những người lãnh đạo thời đó, nên tiên tri đã bị người ta ghét và muốn loại trừ ngài khỏi đất của kẻ sống. Tiên tri đã run sợ, và đã bỏ cuộc; nhưng Thiên Chúa đã giúp tiên tri trở lại với Ngài, và Thiên Chúa lại dùng tiên tri để nói cho dân ý định của Thiên Chúa.

Trong lịch sử nhân loại, bao nhiêu người lành bị kẻ dữ ghen ghét và hãm hại. Điều này đã xảy ra và sẽ còn xảy ra. Khi người ta sống theo đường ngay nẻo chính, khi người ta tôn trọng sự thật, tôn thờ Chân Thiện Mỹ, thì người ta tôn trọng phẩm giá con người, tôn trọng tha nhân và quyền lợi của họ; lúc đó, con người được bình an sâu thẩm trong tâm hồn, thế giới sống trong hòa bình, người người sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau, tương thân tương trợ; con người sống hạnh phúc. Nhược bằng nếu con người đặt mình và quyền lợi của mình trên tất cả, nếu người ta không sống theo Chân Thiện Mỹ, không tôn trọng người khác và quyền lợi của tha nhân, thì thế giới sẽ sống trong hỗn loạn; chiến tranh sẽ nổ ra để người ta giành giựt quyền lợi; chết chóc sẽ lan tràn; con người không bình an và hạnh phúc.

2. Đức Giêsu loan báo ba lần Ngài sẽ bị bắt bị hành hạ và bị giết

Đức Giêsu đã dạy con người những điều tốt lành, đã làm nhiều phép lạ để chữa bao người đau ốm. Tuy nhiên, nhiều người vẫn ghét Ngài, đặc biệt là những người có chức có quyền, bởi vì Ngài không đồng ý với suy nghĩ, cách sống, và cách hành xử của họ. Đức Giêsu mới chỉ đi rao giảng được ba năm, nhưng người ta đã ghét Ngài đến độ muốn loại Ngài khỏi đất kẻ sống.

Đức Giêsu báo cho các tông đồ biết Ngài sẽ bị bắt, bị hành hạ và bị giết, nhưng ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại.Chính cách sống, cách hành xử, lời nói của Ngài đã làm một số người quyền thế ghét Ngài và muốn giết Ngài. Đức Giêsu biết điều này; Ngài biết Ngài khó có thể tránh cái chết vì những người ghen ghét muốn giết Ngài. Tuy nhiên Ngài tin rằng Thiên Chúa sẽ phục sinh Ngài, vì Thiên Chúa là Đấng Công Bình. Đức Giêsu tin điều đó là sự thật, nên Ngài đã báo cho các tông đồ biết điều này.

Đức Giêsu đã sống thân phận con người cho đến cùng. Ngài phải chết như bao con người. Là người, nghĩa là có thể bị những bất công, những sự dữ mà người khác gây ra cho mình. Đức Giêsu đã chấp nhận tất cả những cách đối xử bất công của con người thời đó đối với Ngài. Những gì con người gặp trong cuộc sống, chính Đức Giêsu cũng đã gặp. Cách hành xử khi gặp sự dữ của Đức Giêsu, trở thành mẫu mực hành xử cho tất cả mọi người.

3. Sự dữ từ lòng con người

Tại sao người ta muốn tru diệt người khác? Vì người đó làm nguy hại đến họ hay người khác, nhất là vi phạm đến quyền lợi của họ, đến tính “nhất” của họ. Ai cũng muốn mình là nhất, là người trổi trang và có quyền hành; nếu người khác có ảnh hưởng và người ta thấy uy quyền của họ bị đe dọa, thì người ta có khuynh hướng hủy diệt đối thủ cạnh tranh của mình. Đức Giêsu đã giảng dạy như một người có uy quyền; Ngài không phục tùng uy quyền của họ; Ngài phê bình cách sống quá nệ vào hình thức của họ; Ngài muốn dân chúng đến với Thiên Chúa bằng tất cả con người, chứ không chỉ là giữ một vài hình thức. Chính vì vậy những người có quyền đương thời đã quyết định giết Đức Giêsu.

Các tông đồ cũng là những người muốn có địa vị và quyền thống trị trên người khác. Các ngài khi được Thầy báo tin sẽ bị bắt bị giết, thì các ngài đã vội tranh cãi xem ai sẽ là người lớn nhất giữa họ. Đáng lẽ khi được báo tin thầy sẽ gặp cảnh tang thương như vậy, thì các ông phải buồn sầu, và phải quan tâm đến số phận của thầy; đằng này các ông lại tranh nhau xem ai là người lớn nhất. Đức Giêsu đã phải dạy các tông đồ bằng việc đặt một em bé ở giữa các ông, cho các ông biết ai đón tiếp một em bé là đón tiếp Ngài, ai muốn là đầu thì phải là người chót hết, là người phục vụ người khác. Và khi các ông vẫn chưa hiểu bài học Đức Giêsu dạy, thì Đức Giêsu đã phải rửa chân cho các ông để dạy các ông bài học phục vụ và khiêm tốn.

Từ các tông đồ đến các vị lãnh đạo dân Do Thái, tất cả đều có khuynh hướng muốn trổi trang, muốn có quyền hành; tuy nhiên mỗi người ra sao, thành người như thế nào là tùy chọn lựa của mỗi người. Khuynh hướng, như những cám dỗ, không là yếu tố quyết định hình thành nên con người; chính những chọn lựa mới làm nên chân tính của mỗi người. Nếu tôi luôn tôn thờ Thiên Chúa, nếu tôi luôn sống theo đường ngay lẽ phải, nếu tôi luôn theo những gì là chân thiện mỹ, nếu tôi luôn vâng phục lương tâm làm lành lánh dữ, thì tôi sẽ tôn trọng tha nhân và quyền lợi của họ, thì tôi sẽ sẵn sàng giúp đỡ tha nhân, quan tâm đến nỗi khổ của họ, thông cảm với những lo toan của họ, thì tôi sẽ là người tuyệt vời. Chính hành vi chọn lựa của tôi, làm tôi là người như thế nào.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ

1. Theo kinh nghiệm, hành vi nào hủy hoại nhân cách của bạn nhất? Xin giải thích.

2. Theo kinh nghiệm, hành vi làm tăng giá trị của bạn nhất? Xin chia sẻ.

3. Lý tưởng của bạn là gì? Bạn muốn trở thành người như thế nào?

 

3. Chú giải mục vụ của William Barclay.

 

ĐỐI DIỆN VỚI MỤC ĐÍCH (9,30-32)

Đoạn Tin Mừng này đánh dấu một giai đoạn quan trọng. Bây giờ Chúa Giêsu đã lìa khỏi vùng đất phía Bắc là nơi Ngài được an toàn để đi những bước đầu tiên về Giêrusalem và thập giá đang chờ Ngài tại đó. Lần đầu tiên, Ngài không muốn có đám dân đông đảo chung quanh mình. Chúa Giêsu biết rõ Ngài sẽ thất bại, trừ khi Ngài viết được thông điệp của mình trong những người Ngài đã chọn. Bất kỳ một Rabbi nào cũng để lại cho hậu thế một loạt các lời tuyên bố. Nhưng Chúa Giêsu biết chỉ có vậy thì chưa đủ. Ngài phải để lại sau lưng mình một đoàn người mà những lời tuyên bố của Ngài được ghi khắc trên họ. Ngài phải chắc chắn rằng sau khi thân xác Ngài rời bỏ thế gian này, vẫn còn một số người hiểu –dầu chỉ lờ mờ- những gì Ngài từng phán dạy. Lần này, lời cảnh cáo của Ngài gặp thất bại bi thảm, đau lòng hơn. Nếu đối chiếu đoạn này với đoạn trước đây, trong đó Ngài báo trước sự chết của Ngài (Mc 8,31), chúng ta thấy có câu duy nhất này được thêm vào “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời”. Trong nhóm người ít ỏi đó, Ngài vẫn nhìn thấu suốt cách thức mà Giuđa vận dụng tâm trí. Ngài biết rõ hơn Giuđa biết chính mình. Vì thế, khi Ngài phán “Con Người sẽ bị nộp trong tay người đời” chẳng những Ngài thông báo một sự kiện, đưa ra một lời cảnh cáo, mà Ngài còn thực hiện một lời kêu gọi cuối cùng đối với kẻ mưu tình một kế hoạch phản bội Ngài.

Thế nhưng cho đến lúc đó, các môn đệ vẫn chưa hiểu. Điều họ không hiểu nổi là mấy tiếng ngắn ngủi đề cập sự sống lại. Bấy giờ họ đã ý thức được bầu không khí của tấm thảm kịch, nhưng cho đến tận những ngày chót, họ vẫn không nắm được thật chắc chắn sự Phục Sinh. Đây là một việc kỳ diệu quá lớn lao đối với họ, một việc kỳ diệu mà họ chỉ lãnh hội được khi nào nó trở thành một sự kiện đã hoàn tất.

Khi đã không hiểu thì họ cũng không dám hỏi gì thêm. Họ như những kẻ đã biết quá nhiều rồi, nên sợ biết nhiều hơn nữa. Một người có thể nhận được sự chẩn đoán bệnh tình của mình từ bác sĩ, có thể người ấy nghĩ rằng nội dung tổng quát của sự chẩn đoán ấy không được sáng sủa lắm, nhưng không hiểu hết mọi chi tiết, mà lại sợ không dám hỏi gì thêm, đơn giản chỉ vì người ấy sợ không muốn biết thêm. Các môn đệ của Chúa đang lâm vào tình trạng như vậy.

Lắm lúc chúng ta ngạc nhiên, không hiểu tại sao các môn đệ của Chúa lại không lãnh hội được một việc đã được Chúa nói rõ ra như vậy. Tâm trí con người vốn có năng khiếu lạ lùng để loại bỏ điều họ không muốn thấy. Chúng ta có khác gì họ đâu? Bao nhiêu lần chúng ta đã nghe thông điệp Kitô giáo. Chúng ta vẫn biết, tiếp nhận nó là phước hạnh, là vinh quang, cũng biết rằng khước từ nó là thảm họa, nhưng nhiều người trong chúng ta vẫn xa tránh thông điệp ấy không chịu tuân phục hoàn toàn cũng như không chịu uốn nắn cuộc sống chúng ta cho phù hợp với nó. Nhân loại chỉ tiếp nhận phần nào mình thích và phù hợp với mình và từ chối không chịu hiểu phần còn lại.

CAO VỌNG CHÂN CHÍNH (9,33-35)

Không có việc nào cho thấy rõ các môn đệ nhận thức đến đâu về ý nghĩa đích thực của sứ vụ Mêsia bằng sự việc ở đây. Chúa Giêsu nhắc đi nhắc lại với họ những gì đang chờ đợi Ngài tại Giêrusalem. Thế nhưng, họ cứ nghĩ vương quốc của Chúa Giêsu là một vương quốc trên thế gian này và chính họ là các thượng thư, bộ trưởng trong vương quốc ấy. Ý nghĩ của Chúa Giêsu đang tiến về thập giá, còn các môn đệ lại tranh cãi xem ai được quyền cao chức trọng hơn cả. Là một cái gì khiến Chúa hết sức đau lòng. Dù vậy, tự thâm tâm, họ vẫn biết là họ đã sai quấy. Khi Chúa Giêsu hỏi họ đang cãi nhau về chuyện gì thì họ chẳng trả lời. Đó là im lặng vì xấu hổ. Họ không có lý do gì để bào chữa.

Thật lạ lùng khi một việc được bày tỏ dưới mắt Chúa Giêsu thì sẽ đâu ra đấy, đồng thời cũng bộc lộ rõ tính chất của chúng. Bao lâu họ nghĩ Chúa Giêsu chẳng lắng nghe, chẳng nhìn thấy thì cuộc cãi nhau về ai lớn nhất nghe có vẻ hay ho, nhưng khi phải tranh luận trước mặt Ngài, họ thấy mọi sự thật vô nghĩa. Nếu chúng ta đem mọi sự đặt dưới mắt Chúa Giêsu, đời sống chúng ta trên thế gian này sẽ trở thành khác hẳn. Nếu trong mọi việc chúng ta đều đặt câu hỏi “Tôi có thể làm việc này dưới con mắt theo dõi của Chúa Giêsu không?”. Nếu trong mọi lời nói, chúng ta đều đặt câu hỏi “Tôi có thể tiếp tục nói thế này nếu Chúa Giêsu đang lắng nghe tôi không”“. Hẳn chúng ta sẽ tránh được vô số việc làm, nhiều lời nói đáng tiếc. Vấn đề là không có chữ “nếu” trong niềm tin Kitô giáo. Mọi việc chúng ta làm, mọi lời chúng ta nói, đếu phơi bày trước mặt Chúa Giêsu. Nguyện Chúa gìn giữ chúng ta khỏi những việc làm, những lời nói khiến chúng ta phải xấu hổ, khi biết Ngài đang nghe và thấy.

Chúa Giêsu đã giải quyết sự việc này thật nghiêm chính. Kinh Thánh chép “Ngài ngồi lại và gọi nhóm Mười Hai đến”. Khi một Rabbi thật sự dạy dỗ với tư cách Rabbi, như một bậc thầy dạy bảo học trò, khi ông muốn tuyên bố một điều quan trọng, vị Rabbi ấy luôn luôn ở tư thế ngồi để giảng dạy. Trước khi ngỏ lời với họ, Chúa Giêsu đặt mình vào tư thế của một Rabbi dạy dỗ học trò. Ngài bảo họ, nếu muốn làm lớn trong Nước Trời thì sẽ được chức vị cao trọng ấy, không phải bằng cách làm sao để đứng đầu, nhưng phải tìm cách làm kẻ đứng sau rốt, không phải tìm cách làm chủ, nhưng phải làm tôi tớ mọi người. Nói thế không phải là Chúa Giêsu xóa bỏ cao vọng, nhưng Ngài chỉ muốn tái tạo và thăng hoa cao vọng. Ngài đã đem cao vọng giúp đờ tha nhân thay thế cho tham vọng bắt người khác phục vụ chính mình.

Đây không phải là một quan điểm lý tưởng không thể thực hiện, nhưng là một quan điểm hết sức phù hợp. Những nhân vật thực sự vĩ đại, những con người luôn luôn được người ta nhớ ơn vì đã thực sự đóng góp cho đời, không phải là những người vẫn tự nhủ thầm “Ta có thể lợi dụng đất nước này, xã hội này để gây thêm uy tín cho riêng ta, thực hiện những tham vọng của riêng ta như thế nào đây?”. Nhưng tự hỏi “ta phải dùng tài năng mình để phục vụ quốc gia dân tộc như nào?”. Sự vĩ đại của một người không phải là việc người ấy leo được đến tột đỉnh các nấc thang của quốc gia, xã hội nhưng ở trong sự kiện người ấy sẵn sàng phục vụ quốc gia, đồng bào mình bất cứ lúc nào, ở đâu.

Người thật sự không vị kỷ rất ít, nên có người như thế được mọi người ghi nhớ mãi. Người Hy Lạp có một câu chuyện về một người ở Sparta tên gọi Paedaretos. Người ta chọn và bầu ra 300 người để cai trị xứ Sparta. Paedaretos là một ứng cử viên. Khi danh sách những người trúng cử được công bố, không có tên ông. Một bạn thân của ông ta nói: “Tiếc thật, người ta đã không bầu cho anh, thiên hạ không biết nếu bầu cho anh, anh sẽ là một chính khách lỗi lạc đến thế nào”. Nhưng Paedaretos thản nhiên đáp “Trái lại, tôi rất vui vì trong xứ Sparta này còn có 300 người có tài, có đức hơn tôi”. Đây là một người đã đi vào truyền thuyết vì sẵn sàng nhường cho kẻ khác ngôi vị hàng đầu mà không hề tỏ ra cay đắng.

Một vấn đề kinh tế có thể giải quyết nếu mọi người đều sống vì những gì mình có thể làm cho tha nhân, chứ không phải vì những gì họ có thể thâu góp, vơ vét cho chính mình. Và mọi vấn đề về chính trị có thể được giải quyết nếu mọi người luôn luôn có cao vọng chỉ muốn phục vụ quốc gia chứ không phải chỉ lăm le gây uy tín cho riêng mình. Những chia rẽ, tranh giành xâu xé trong Hội Thánh từ bên trong, phần lớn sẽ chẳng bao giờ xảy ra nếu ước vọng duy nhất của Hội Thánh và của các cấp lãnh đạo Hội Thánh là phục vụ Hội Thánh chứ không phải lo củng cố địa vị của mình. Khi Chúa Giêsu đề cập đến tính cách vĩ đại và giá trị tối cao của một người có cao vọng làm tôi tớ kẻ khác là Ngài thiết lập một trong những chân lý thực tiễn quan trọng nhất về cách sống ở đời.

GIÚP ĐỠ NGƯỜI VÔ VỌNG (9,36-37)

Nên nhớ là ở đây, Chúa Giêsu vẫn còn đề cập đến vấn đề cao vọng xứng đáng và tham vọng bất chính. Ngài đem một đứa trẻ đặt ở giữa họ. Một đứa bé thì chẳng có ảnh hưởng gì, không thể giúp được ai thăng tiến trong sự nghiệp hoặc tăng thêm uy tín. Một đứa bé chẳng có gì để cho chúng ta cả, trái lại thì đúng hơn. Một đứa bé cần đến cái này, cái kia, người ta phải làm việc này, việc nọ cho nó. Vì thế Chúa Giêsu phán “Nếu ai tiếp rước kẻ nghèo khó, người tầm thường, những người chẳng có danh tiếng, của cải hoặc quyền thế, những kẻ cần được các người giúp cho việc này việc nọ, ấy là các ngươi đã tiếp đãi Ta. Hơn thế nữa, chính các ngươi đã tiếp đãi Chúa vậy”. Đứa trẻ tiêu biểu cho người có nhu cầu, gặp thiếu thốn, và chính cộng đồng của những người có nhu cầu mà chúng ta phải tìm đến.

Ở đây có một lời cảnh cáo. Thật dễ làm bạn với người có thể giúp đỡ chúng ta, những người mà tiếng tăm của họ có lợi cho ta. Cũng rất dễ cho chúng ta tìm cách xa tránh những người đang sa cơ thất thế, cần được chúng ta giúp đờ. Thật dễ cho chúng ta làm ơn, ưu đãi những người có quyền thế, có địa vị, và xao lãng những ai chất phác, khiêm hạ, tầm thường. Thật dễ cho chúng ta tìm để làm quen với những người được mọi người tôn trọng và tránh những người nghèo khổ, chẳng ai thèm lưu ý. Thật ra, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta không nên tìm cách kết thân với những người có thể giúp đỡ chúng ta việc này, việc nọ, những nên kết thân kết thân với những ai cần được chúng ta giúp đỡ, vì làm thế, là chúng ta tìm cách kết thân với chính Ngài. “Ai làm một việc mọn cho một trong những người nhỏ mọn nhất trong anh em Ta, tức là đã làm việc đó cho Ta vậy”.

 

4. Ai tiếp đón một em nhỏ

(Suy niệm của Alphonse Marie Trần Bình An)

Aylan Kurdi, em bé trai 3 tuổi bị chết đuối dạt vào bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ và đã được chôn ở Kobane, Syria ngày thứ năm 4 tháng 9/2015. Mẹ và anh trai của em cũng được chôn cùng ngày. Đức Giám mục de Dinechin viết: “Các hình ảnh của em bé đã gợi lên nỗi thương cảm sâu đậm. Anh trai 5 tuổi, mẹ của hai em và 11 người khác đã bị chết trong vụ đắm thuyền này”. Ngài cũng nhắc lại, “nỗi xúc động này cũng là nỗi xúc động khi nghe tin hàng ngàn người chết trên đường đi tìm một thế giới tốt hơn.” “Tháng 7, 2013 khi nghe tin thảm kịch đắm tàu ở Lampedusa, Ý, Đức Phanxicô đã đến đây “để thức tỉnh lương tâm chúng ta, để những việc tương tự như thế sẽ không xảy ra nữa. Nhưng ngày hôm nay sự việc này lại xảy ra…”, Đức Giám mục nhấn mạnh.

Ngài nói tiếp: “Chúng ta biết việc này rất phức tạp vì các quốc gia có quyền và có bổn phận điều hợp làn sóng di dân ở xứ họ. Tuy nhiên trong lần đọc diễn văn trước Nghị viện Âu Châu tháng 11-2014, Đức Phanxicô nhắc Hội đồng Âu Châu phải “giúp đỡ và đón nhận” người di dân chui tràn đến biên giới họ. Phải có thêm phương tiện, phải có những hành động mới để vượt lên tính ích kỷ và nỗi sợ đang trải rộng ra trên bình diện Âu Châu.” Vì thế Hội đồng Giám mục Pháp có nhiệm vụ nhắc “tất cả các người Công giáo có thiện tâm phải giúp đỡ và mở lòng ra với người anh em để con đường đi đến một nơi có đời sống tốt hơn không dẫn họ đến cõi chết.”

Theo Đức Giám mục de Dinechin, “hình ảnh của em Aylan làm cho chúng ta có ý thức hơn về thảm kịch mà người di dân đang sống” và “Chúa nói với chúng ta qua các biến cố này để thức tỉnh lương tâm chúng ta. Trong lời cầu nguyện, chúng ta phải tìm ra ý nghĩa này.” Ngài cũng cho biết vào chúa nhật 6 tháng 9, nhiều nhà thờ Công giáo sẽ cầu nguyện. Biến cố buồn thảm này cho thấy “tính ích kỷ, mong manh và hỗn loạn của xã hội chúng ta,” ngài hy vọng đây là biến cố sẽ làm cho tâm thức cá nhân cũng như tập thể sẽ giật mình. “Chính việc tiếp đón người yếu đuối nhất, những người di dân, những người nghèo nhất sẽ cứu xã hội chúng ta,” ngài nhấn mạnh.

Đức Giám mục Jean-Michel Di Falco, địa phận Gap đã công bố một bản tin nói mình đã cảm thấy “nhục” khi nhìn bức hình của em bé Aylan nằm chết trên bãi biển và khi thấy phản ứng của “báo chí Pháp, ngược với báo chí Âu Châu, đã phớt lờ tấm hình này.” Đức Giám mục Di Falco phẫn nộ, ngài nói mình cảm thấy nhục khi phải “hét lên tiếng kêu này, để không đồng lõa với sự im lặng nặng nề này” và “thế hệ này đã từ chối không thừa nhận rằng, châu lục chúng ta hôm nay đang gặt những gì mình đã gieo hôm qua!” (Các Giám mục Pháp hy vọng cái chết của em Aylan sẽ thức tỉnh lương tâm chúng ta, la-croix.com, Jos Nguyễn Tùng Lâm dịch)

Trong Tin Mừng Thánh Máccô hôm nay, Đức Giêsu phán dạy: “Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy. Và ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.” Nhưng ngày nay, thiên hạ đang mãi nhẫn tâm quay lưng với Thiên Chúa, với tha nhân, với những người di dân khốn khó, mới xảy ra những cái chết thảm thương, như cậu bé Aylan Kurdi chết đuối nằm trên bờ biển Bordun, Thổ Nhĩ Kỳ. Nhờ bùng nổ hình ảnh xót xa của bé Aylan trên truyền thông, một dấu chỉ thời đại, lương tâm người dân Âu Châu mới được thêm dịp thức tỉnh.

Ngoài việc yêu thương, quan tâm, giúp đỡ trẻ thơ, đón nhận, cưu mang người khốn khổ, di dân, hôm nay Đức Giêsu còn giảng dạy về nhân cách người Kitô hữu trước địa vị, chức tước, phẩm trật.

Khiêm hạ

“Dọc đàng các con tranh luận gì thế?” Trên đường đi, các môn đệ chí chóe cãi nhau, kịch liệt tranh ngôi giành chức, sỗ sàng ngay sau lưng Đức Giêsu. Người lẳng lặng, lắng nghe, biết hết, nhưng làm bộ tảng lờ như chẳng biết gì cả, mới điềm tĩnh hỏi lại các ông, một khi đã vào nhà trọ ở Capharnaum. Các ông mắc cở, “làm thinh, vì dọc đàng các ông tranh luận xem ai là người lớn nhất.”

Bất cứ ai cũng có một chỗ đứng trong đời. Là con cháu, cha mẹ, ông bà, lính tráng, công chức, nhân viên, quản đốc, giám đốc, quan chức, lãnh đạo,… tất cả đều có địa vị, đều đáng chấp nhận và tôn trọng. Nhưng thiên hạ thường tự tôn, tự cao, tự đại muốn thống trị người khác. Đức Giêsu không đả kích, tẩy chay, phế bỏ chức vị, Người kêu gọi canh tân ý thức bổn phận, trách nhiệm liên đới.

Trong gia đình và xã hội, đều có những địa vị cụ thể do Thiên Chúa an bài, sắp đặt. Ngài đã chuyển giao cho mỗi người một hay nhiều địa vị tùy nơi, tùy lúc và tùy hoàn cảnh. Khi bà vợ ông Giêbêđê, thân mẫu hai ông Giacôbê và Gioan đến cầu cạnh cho hai con mình, được đứng bên tả và đứng bên hữu, Đức Giêsu thẳng tay lắc đầu từ chối, vì đó là quyền năng Thiên Chúa ấn định, ban cho mỗi người.(Mt 20, 20-23)Nếu cứlàm tròn bổn phận và trách nhiệm, thì địa vị nào cũng đều xứng đáng, quý hóa và trân trọng.

Chu toàn bổn phận, chính là sống theo Thánh Ý Chúa trong phút giây hiện tại. (Đường Hy Vọng, số 17) Bởi vì địa vị do chính Thiên Chúa trao ban, nên chấp nhận và chu đáo bổn phận, cũng chính là phục tùng, làm theo ý muốn của Ngài. “Chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, là Đấng ngự trên trời, mới được vào (Nước Trời) mà thôi.” (Mt 7, 21).

Như thế, đối với Thiên Chúa, chẳng có địa vị nào cao hay thấp, sang hèn, mà chỉ có bổn phận chu đáo hay bất toàn mà thôi. Chỉ có hai thái độ hoàn toàn đối nghịch, một là khả ái “Xin Vâng” như Mẹ Maria, hai là bất hiếu, kiêu ngạo theo Satan. Người có địa vị cao mà ngạo nghễ thì sẽ bị Chúa hạ xuống. Người có địa vị thấp mà chấp nhận, khiêm hạ thì lại được nâng lên. “Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, đập tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.” (Magnificat)

Yêu thương

Trên đỉnh cao quyền lực, những nhà lãnh đạo độc tài luôn bị ám ảnh bởi sự truất phế, hạ bệ, ám sát, trả thù. Ngày đêm khối óc, tâm hồn luôn căng thẳng, nhìn đâu cũng lo lắng, sợ hãi cạm bẫy, nhìn ai cũng nghi ngờ ngấm ngầm phản bội, nên sẵn sàng thẳng tay đàn áp dã man bất kỳ ai có ý đồ chống đối, tỏ vẻ thiếu tôn trọng. Quyền lực và tham vọng đã cầm tù, trói chặt vị hôn quân trong tháp ngà vinh quang, chịu bế tắc không thể nào thoát ra.

Nay Đức Giêsu đến giải thoát cho những ai toan tính làm thủ lãnh, mà không muốn bị cầm tù bới chính mình: “Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết.” Vậy muốn được thong dong, an nhiên tự tại, người cầm đầu cần ẩn mình đi, tự nguyện đứng sau mọi người, bỏ đi tánh kiêu ngạo, không coi mình tài giỏi như thần thánh, cũng chẳng miệt thị thiên hạ hèn kém như rác rưởi.

Nếu gột bỏ được thái độ vị kỷ, kiêu căng, tự cao, tự mãn, ngạo mạn, vênh váo, hỗn hào, láo xược, thì con người mới có khả năng nhận biết được cuộc đời còn nhiều éo le, mới biết rung động con tim, cảm thông tình người, nhân hậu, khi nhìn đến tha nhân, không còn kỳ thị, không phân biệt địa vị cao thấp, kẻ sang hèn, giầu nghèo, no đói, khỏe mạnh hay bệnh hoạn, thảy mọi người đều được niềm nở tiếp đón, an ủi, chia sẻ và giúp đỡ. Nhân ái, nhân hòa chính là biểu tượng của tình yêu. Thánh Augustin khuyên nhủ: “Hãy yêu đi rồi làm gì thì làm”(ama et fac quod vis). Tình yêu chính là thần dược chữa lành và hóa giải giai cấp bất đồng, bất bình đẳng. Đến với nhau bằng tình yêu mới có thể thật sự hòa hợp và hiệp nhất.

Chẳng còn xa cách trên dưới, chẳng còn khinh khi, ghét bỏ, mà chỉ còn đồng cảm, chan hòa tình bằng hữu, chỉ còn duy nhất nợ nhau tình yêu, mà yêu thương là đã chu toàn Lề Luật, theo như Thánh Phaolô dạy: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân, tương ái; vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật… Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy.” (Rm 13, 8-10)

Phục vụ

Để minh họa cụ thể sự khiêm hạ, yêu thương và phục vụ của người lãnh đạo, Đức Giêsu ôm một cháu bé vào lòng, triển khai giáo huấn kỹ hơn, sâu sắc hơn nữa: “Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy. Và ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.”

Trẻ thơ thuở ấy ở Israel bị coi là tầm thường nhất, khinh rẻ nhất, thế mà Đức Giêsu lại đề cao như chính Người. Vì Người muốn mọi người ở bất kể địa vị nào, cũng đều cần quan tâm, bao bọc lấy những thân phận bé nhỏ, yếu đuối, không có khả năng đáp nghĩa, đền ơn. Đón tiếp và phục vụ vô tư, vô vị lợi những người nhỏ mọn đó chính là tiếp đón Thiên Chúa.

Bởi trẻ em chẳng có gì đáp lại ngoài tình yêu trong sáng, hồn nhiên, nhân chi sơ tánh bổn thiện, nên người lớn, người quyền cao chức trọng chẳng lợi dụng được gì ngoài tánh bổn thiện đó. Tuy vậy, muốn đón nhận được trẻ thơ, thì đòi hỏi người ta phải tự cải hóa, tái sinh, trẻ hóa, trở nên trong trắng, ôn hòa, bao dung, nhu mì, nhân ái như trẻ thơ. Chính là điều mà Đức Giêsu từng luôn mời gọi con người cải biến: “Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.” (Mt 18, 3)

Điều quan trọng cuối cùng dành cho ai muốn lãnh đạo, đó là phục vụ. “Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người.” Khiêm nhường, trở nên trẻ thơ và yêu người mà thôi thì chưa đủ, mà còn phải thành người đầy tớ phục vụ tất cả những ai bần cùng, đau khổ, côi cút, đau yếu, cô đơn,.. Biến tình yêu thành hành động cụ thể. Nếu không chỉ là môi mép, giả mạo và lừa đảo mà thôi. Chính Đức Giêsu đã làm tấm gương phục vụ sáng chói. “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và phó mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người.”(Mt 20, 28)

Đức Giêsu yêu thương con người bằng cách vâng theo Thánh Ý Đức Chúa Cha, xuống thế làm người, phục vụ rao giảng, chịu nạn, chịu chết và sống lại, để giải thoát con người khỏi vong thân, được tự do khỏi nô lệ xác thịt, thế gian, khỏi xiềng xích cám dỗ; nhất là giải phóng khỏi cái chết muôn đời. Vậy người lãnh đạo càng cần theo gương Đức Giêsu, tích cực yêu thương và phục vụ tha nhân, để làm chứng nhân, làm gương sáng cho mọi người: “Thưa anh em, anh em được gọi để hưởng tự do. Có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau.” (Gl 13, 13)

 

5. Con Người bị nộp vào tay người đời

(Giải thích và suy niệm của Lm. FX. Vũ Phan Long)

1.- Ngữ cảnh

Ở Mc 9,31, chúng ta có một bản văn lặp lại lời loan báo Thương Khó ở 8,31. Tác giả cũng nhắc lại tình trạng không hiểu biết của các môn đệ, mà ta đã thấy được tỏ lộ nơi phản ứng của Phêrô trên núi (9,5; x. 10,32). Ghi chú về địa lý của chuyến băng ngang miền Galilê nhằm nhắc nhớ rằng kể từ 8,27, Đức Giêsu không quay trở lại miền này nữa; Người đang trên đường đi lên Giêrusalem. Đức Giêsu không muốn bị níu kéo vô ích trong cuộc hành trình này. Quả đúng là theo 9,33, Người lại có mặt ở Caphácnaum, nhưng ta không thể nói về một hoạt động mới ở Galilê nữa. Những gì xảy ra ở Caphácnaum chỉ liên hệ đến các môn đệ mà thôi.

2.- Bố cục

Bản văn này có thể chia thành hai phần:

1) Loan báo Thương Khó lần thứ hai (9,30-32);

2) Giáo huấn về đời môn đệ (9,33-37).

Phần hai là khởi đầu của một bài diễn từ đa tạp kéo dài tới c. 50. Khối này, dường như có trước TM Mc được đặt trong Diễn từ về Đời sống cộng đoàn trong TM Mt (ch. 18). Mc tìm cách tạo sự thống nhất cho đoạn này bằng cách ghép vào một vài ghi chú tiêu biểu của ngài (c. 30: bí mật; c. 31: dạy; c. 32: các môn đệ không hiểu và sợ; c. 35: “nhà” đối lại với “đường”; c. 34: cãi nhau).

3.- Vài điểm chú giải

– băng qua (30): Động từ paraporeuomai là một từ được tác giả ưa chuộng, bởi vì động từ này được dùng 5 lần trong Tân Ước, thì 4 lần ở trong TM II.

– Bị nộp (31): Ta có thể nghĩ đến ngôn sứ Giêrêmia (Gr 26,24), đến những Thánh vịnh về người trung hiếu đau khổ (Tv 70/71,4; Tv 139/140,5) và đến “các thánh của Đấng Tối Cao bị nộp” vào tay vua Antiôkhô Êpiphanê (Đn 7,22-25). Vậy cuộc Thương Khó của Đức Giêsu sẽ cô đọng và thể hiện trọn vẹn sự đau khổ của những người công chính, thân phận bị bách hại của các ngôn sứ, cái chết của những vị tử đạo.

Động từ nộp (paradidômi) là động từ chuyên môn để nói về sự phản bội (Giuđa “nộp” Đức Giêsu cho các thượng tế: 14,10; các vị này “nộp” Người cho Philatô: 15,1.10; ông này lại “nộp” Người cho lính: 15,15). Đức Giêsu liên tiếp bị chuyển cho quyền hành của mọi lực lượng gian ác: “bàn tay” là biểu tượng của quyền hành, quyền lực, (x. 9,13 nói về Êlia-Gioan Tẩy Giả, nhưng cũng là báo trước số phận của chính Người). Lời loan báo thứ ba sẽ nói chi tiết; và đây là một chướng kỳ quá lớn: một người Do Thái bị những người Do Thái nộp cho Dân ngoại, một sứ giả của Thiên Chúa bị nộp cho người ngoại giáo!

Cho đến lúc này, người ta vẫn có thể hiểu lời loan báo này liên hệ đến những sáng kiến và những trách nhiệm của loài người (Mc 14,21; x. Ga 19,11). Thế nhưng lời nói ở thái bị động (paradidotai, “sẽ bị nộp”) còn là một kiểu nói quanh để chỉ hành động của Thiên Chúa. Nếu vậy: “Thiên Chúa sẽ nộp Con Người vào tay loài người”, không phải là sự gian ác đang hoành hành và thắng thế, nhưng là chính chương trình của Thiên Chúa đang được thực thi xuyên qua sự ngang trái (x. Ga 3,16; Rm 8,32)! Đức Giêsu ý thức Người đang đi vào cuộc Thương Khó như biến cố trung tâm của chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

– Khi về tới nhà (33): Để các ông có thể trở thành môn đệ thực sự, cần phải có một sự dẫn nhập. Chủ đề “ngôi nhà” có mục tiêu ấy. Thường thường, Mc không xác định ngôi nhà ở đâu, nhưng xác định chức năng của ngôi nhà: nơi Đức Giêsu quy tụ môn đệ (3,20.31-35), những cuộc trò chuyện riêng tư và những giải thích dành riêng (7,17; 9,28; 10,10; x. 4,10.34), xa cách đám đông và các đối thủ. Thế nhưng lần này tác giả xác định ngôi nhà ở Caphácnaum: phải chăng là nhà Simôn (1,21-29; 2,1), là biểu tượng của cộng đoàn Giáo Hội?

– Đức Giêsu ngồi xuống, gọi Nhóm Mười Hai lại (35): “Ngồi” là tư thế của vị thầy khi giảng dạy (x. c. 35; 4,1; Mt 5,1; Lc 4,20; 5,3;…); Người sẽ chỉ trỗi dậy khi xong câu truyện (10,1: anastas). Chi tiết “gọi Nhóm Mười Hai lại” không hợp lý, khi mà Đức Giêsu đã đang ở trong nhà với các ông. Nhưng cử chỉ ra lệnh này rất có thể nhằm nêu bật tầm quan trọng của lời giáo huấn.

– Ai muốn làm người đứng đầu … làm người phục vụ (diakonos) mọi người: Xem 10,43-44. Đức Giêsu không loại bỏ ý muốn là người đứng đầu, nhưng Người chỉ cho thấy con đường đúng đắn đưa tới đó. Lý tưởng về lãnh đạo như là phục vụ sẽ được Đức Giêsu nêu gương trong phần Tin Mừng còn lại. Khi nói đến “diakonos”, Người xác định kiểu phục vụ. Người không nhắm đến việc phục vụ cưỡng chế của người nô lệ (doulos) mà là việc phục vụ tự do của người tôi tớ, do chính người này muốn và thích; công việc này đòi hỏi sự chú tâm trọn vẹn và tất cả các khả năng của người ấy để mưu ích cho người khác.

– một em nhỏ (36): Em nhỏ ở đây không phải là biểu tượng của sự vô tội hoặc khiêm nhường, nhưng là biểu tượng của một người không có quy chế pháp lý nên không được trợ giúp (yếu thế). Đứa bé không thể làm gì cho người môn đệ. Đón tiếp một em nhỏ là làm một việc tốt cho một con người không đáng kể, mà không mong được đền đáp. Đây không phải là cho một món bố thí rồi bảo họ đi, nhưng là săn sóc và chịu trách nhiệm về họ.

4.- Ý nghĩa của bản văn

* Loan báo Thương Khó lần thứ hai (30-32)

So sánh với Mc 8,31 và 10,32-34, ta thấy Lời loan báo thứ hai này ít chính xác hơn cả, lại ngắn hơn, nên rất có thể là lời ở tại gốc. Hơn nữa, câu này còn có kiểu chơi chữ “Con Người/người” và kiểu nói quanh theo thái bị động để diễn tả hành động của Thiên Chúa (“bị nộp”). Tất cả những chi tiết đó chứng tỏ câu này có một nguồn gốc A-ram.

Với lời tiên báo thứ hai này về Thương Khó, tác giả Mc có thể quy hướng hoạt động của Đức Giêsu về Giêrusalem cách dứt khoát hơn. Galilê không còn có thể cầm giữ Đức Giêsu nữa. Các môn đệ đi theo Thầy trên đường Người đi. Ai bịt tai lại thì sẽ không nắm bắt được các đòi hỏi tương lai.

* Giáo huấn về đời môn đệ (33-37)

Phân đoạn này bắt đầu với một xác định chính xác về địa điểm: Caphácnaum. Tuy nhiên, những gì tiếp đó không được liên kết với nơi ấy, mà có thể được nói ở bất cứ nơi đâu. Chi tiết địa lý này nhằm tạo cơ hội để Đức Giêsu ban cho các môn đệ một bài học tại địa điểm quen thuộc nhất của miền Galilê.

Đức Giêsu đã chọn ví dụ về phục vụ này vì vào thời của Người, các trẻ em bị coi như là những kẻ thấp bé nhất và bị khinh thường; với ví dụ về em bé, Đức Giêsu muốn cho các môn đệ thấy rằng các ông phải phục vụ cả những người thấp bé cùng rốt nhất. Người đã thiết lập một tiêu chuẩn tổng quát để phân biệt điều thất sự quan trọng và đúng đắn trong đời sống và trong lối cử xử của con người.

Các môn đệ phải tiếp đón Nước Thiên Chúa như các trẻ em, có nghĩa là các ông không thể đi vào đó bằng sức lực riêng. Cũng như các em bé, các ông phải cảm thấy mình được tình yêu của Thiên Chúa che chở, bảo vệ, và phải để cho mình được Thiên Chúa lấp đầy bằng những ân huệ. Chính Đức Giêsu vẫn quay về với Thiên Chúa như về với Người Cha đầy tình yêu thương (Abba) (14,36) và biết rằng Người được Cha che chở bằng tình yêu của Cha.

+ Kết luận

Chỉ có Mc mới đặt ba lời loan báo Thương Khó và Phục Sinh “trên đường”, trong khung cảnh một cuộc hành trình đưa Đức Giêsu cùng với các môn đệ khởi hành từ Xêdarê Philípphê đến tận vùng cực bắc, xuyên qua miền Galilê, đến tận Giêrusalem qua nẻo Giêrikhô. Rõ ràng ngài muốn dạy chúng ta rằng kể từ lời tuyên xưng của Phêrô, Đức Giêsu chính thức đi vào bước thực hiện kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa và mạc khải dứt khoát về bản thân Người cũng như công việc của Người, bằng cách dấn vào một nẻo đường mới sẽ đưa Người đến cái chết. Nẻo đường của Con Người, nẻo đường Khổ Nạn, là một nghịch lý huyền bí chỉ được vén mở trong sự kín đáo.

5.- Gợi ý suy niệm

1. Đức Giêsu muốn lôi kéo tất cả những bạn đường của Người đi trên con đường này. Đến lời loan báo thứ ba, ta thấy Người đi đầu, một mình, còn các môn đệ đi theo sau, kinh hoàng. Chính Người hỏi đầu tiên, nhưng họ thì im lặng. Rõ ràng họ thật vất vả khi phải theo Người trên nẻo đường này. Con đường là khung cảnh giúp hiểu sự cương quyết của Đức Giêsu đi thi hành thánh ý Chúa Cha, cho thấy sự cách biệt giữa Đức Giêsu và các môn đệ cũng như tâm trạng thực của các ông. Như các môn đệ của Đức Giêsu, chúng ta sợ hãi khi Người cho chúng ta thấy Người là “người tôi tớ” hiến mạng sống vì chúng ta; vì chúng ta muốn tiếp tục yên ổn đọc kinh và làm các nghi thức thay vì suy nghĩ và dấn thân theo các đòi hỏi của Tin Mừng.

2. Người môn đệ được khai tâm để có phong cách người tôi tớ trong và do cộng đoàn: tại đó, người ấy sẽ học thay thế mối bận tâm về chỗ nhất gây chia rẽ và đối lập, bằng nỗ lực tìm kiếm chỗ chót, như phương thế duy nhất để kiến tạo được sự hoà thuận khắp nơi (x. 9,50). Như thế, người ấy sẽ có thể thật sự bước theo Đức Giêsu trên nẻo đường tiến về Giêrusalem. Sự cao cả được đo lường không phải bằng thành công và danh tiếng, nhưng bằng giá trị của công việc phục vụ ta cống hiến.

3. Các trẻ em có thể được coi như một địa chấn đồ (sismographes) của xã hội loài người. Nếu các em phát triển bình thường, điều đó chứng tỏ tương quan giữa những người lớn đang lành mạnh; nếu các em trở nên bất bình thường, điều đó cho thấy lối sống của người lớn có gì sai trái, méo mó. Thật ra, tất cả những gì gây tổn hại cho các trẻ em thì cũng chẳng xây dựng gì cho người lớn.

4. Bằng cách lấy một em bé làm điển hình, Đức Giêsu muốn tất cả chúng ta hiểu rằng cộng đoàn Kitô hữu phải đặt những người không đáng kể, những người nghèo nhất, tại trung tâm của các mối quan tâm của họ, của sự bận tâm của họ. Chúng ta có thể yêu thương, “ôm lấy” những con người bị loại trừ, như thánh Phanxicô Assisi ngày xưa đã ôm hôn người phong cùi chăng?

 

6. Suy niệm của Jean-Pierre Camerelain.

 

“Những Kitô Hữu Này Thật Là Điên”

Ở mọi thời, những chứng nhân đích thực của Thiên Chúa đều bị coi là điên. Người ta đã chế giễu, bách hại, đôi khi giết họ nữa. Chính Chúa Giêsu đã trải qua một kinh nghiệm như thế. Nhưng sự sống đã tuôn trào từ sự điên rồ kia.

Ngày xưa có một cộng đoàn Do Thái thiểu số nhưng sốt sắng. Người ta có khuynh hướng khinh dể cộng đoàn này. Những cách hành xử của họ, niềm tin của họ làm cho thành phố Alexandria nơi họ sống, phải ngạc nhiên. Các thành viên của cộng đoàn này ngưng làm việc ngày thứ bảy, tụ họp lại xung quanh những cuộn giấy cũ được cất giữ cẩn thận từ nhiều thế kỷ, kiêng ăn thịt heo. Để nâng đỡ cộng đoàn này, một trong những thành viên của cộng đoàn đã viết một quyển sách rất hay. Một quyển sách gọi là Khôn Ngoan trong đó tác giả nhắc lại cho những kẻ cùng tôn giáo với mình rằng người công chính bao giờ cũng bị bách hại, nhưng Thiên Chúa chẳng khi nào bỏ rơi họ. Tác giả nhắc lại những vị anh hùng của lịch sử dân tộc đã chịu một số phận như thế. Chính từ quyển sách này mà hôm nay chúng ta đã nghe một đoạn trích. Tại sao những người công chính lại bị kẻ khác bách hại như thế? Bài đọc hai trích thư thánh Giacôbê sẽ trả lời cho chúng ta.

Sự ghen tương muôn thuở.

Có hai con đường cho nhân loại: Con đường dễ dãi, tìm kiếm của cải để thỏa mãn bản năng của mình, và con đường của sự khôn ngoan, chính trực, hòa bình. Bao giờ cũng sẽ có một sự tranh chấp giữa những kẻ chọn con đường này và những kẻ dấn thân vào con đường kia, giữa những kẻ tìm kiếm quyền uy, sở hữu của cải vật chất, và những người sống theo tinh thần hòa bình, khoan dung, thông cảm. Vào thế kỷ thứ I, kỷ nguyên chúng ta (lúc thánh Giacôbê viết thư của người) cũng như cũng như vào thế kỷ thứ nhất trước công nguyên (thời đại của sách Khôn Ngoan), đã có sự tranh chấp này rồi, vậy ta không nên ngạc nhiên khi thấy nó xuất hiện vào thời Chúa Giêsu hoặc cả thời đại chúng ta nữa!

Ông Giêsu này thật là điên!

Chính Chúa Giêsu cũng bị coi là điên. Một người tự xưng là phát ngôn viên của Thiên Chúa và bị các ký lục và biệt phái thù ghét, đã tự cho mình được tự do đối với luật sabat và nhiều tập tục thiết thân đối với những người đạo đức của dân Ngài, điều này không thể chấp nhận được. Chúa Giêsu biết mình bị thù ghét. Lúc đó Ngài bắt đầu nói về những nỗi đau khổ mà Ngài sắp phải chịu về việc Ngài bị các nhà chức trách của dân tộc ruồng bỏ và thậm chí về cái chết của Ngài nữa. Phêrô không thể chấp nhận được những chuyện như thế. Nhưng khi ông trách móc Ngài thì Chúa Giêsu đã vạch mặt Satan là kẻ ẩn nấp trong sự can thiệp của Phêrô. Hơn nữa, Chúa Giêsu còn nói với các môn đệ là chính các ông nữa cũng sẽ phải chịu một số phận như Ngài!

Bước theo Chúa Giêsu trong việc tử đạo của cái thường nhật.

Vác thập giá của mình không chỉ “vào giờ chết” mà thôi nhưng “ngay từ bây giờ”. Trong cái “ngay bây giờ” của những mối tương quan giữa con người với nhau. Không những dấn thân vì chính nghĩa lớn lao như việc cứu rỗi thế giới hoặc phát huy nhân phẩm, nhưng sống hằng ngày với việc mang niềm vui đến cho những kẻ vì đau khổ mà trở nên gắt gỏng với những người chung quanh, nâng đỡ những người thiếu tình yêu thương, giúp những kẻ bị ruồng rẫy, bị bỏ rơi tìm lại được phẩm giá của họ.

Trở thành đầy tớ của những kẻ bé mọn nhất như Chúa Giêsu đã làm dù có nguy cơ sẽ không được những kẻ đương thời hiểu. Làm sao chúng ta có thể là môn đệ Chúa Giêsu nếu chúng ta chỉ đón tiếp những ai suy nghĩ như chúng ta, những kẻ “trong tình trạng hợp lệ”, những kẻ đã thuộc lòng tất cả bộ kinh tin kính hoặc đã tham dự tất cả những buổi họp được yêu cầu để chuẩn bị các bí tích? Chúng ta có hiểu rằng khi đã chấp nhận làm đầy tớ thì phải bỏ đi não trạng làm thầy, dù là thầy dạy suy tư chăng?

Khiêm tốn thật.

Có lẽ đó là khiêm tốn thật. Nhìn nhận rằng dù có đạo từ lâu, thậm chí còn dấn thân trong Giáo Hội nữa, với tất cả lòng thành, ta vẫn còn phải khám phá nơi kẻ bé mọn nhất một cái gì đó phát xuất từ Thiên Chúa. Phải tìm lại cho mình thái độ của đứa trẻ luôn luôn có khả năng ngưỡng mộ trước những con người và sự vật.

Trẻ con ngược hẳn với kẻ chán chường, kẻ biết mọi sự, kẻ đã thấy mọi sự. Trẻ con là kẻ, dù cao niên, vẫn biết thán phục, cởi mở đối với Thánh Linh, Đấng muốn thổi đâu thì thổi và thường gây phiền hà cho chúng ta.

Không phải vô cớ mà Chúa Giêsu đưa một trẻ nhỏ làm gương mẫu cho các tông đồ của Ngài, khi Ngài đòi các ông phải phục vụ theo hình ảnh của trẻ thơ. Ngài muốn các ông trở thành như trẻ nhỏ, có khả năng đón nhận không hậu ý, không nhỏ nhen, không tìm lợi lộc cho riêng mình. Đó là sự cao cả thật sự mà Chúa Giêsu muốn cho những kẻ thuộc về Ngài: sự cao cả của lòng khiêm tốn, sự cao cả của tinh thần phục vụ.

Thánh Phaolô nói: Dù là Con, Chúa Giêsu đã không sợ hạ mình mang thân phận người phàm, Ngài đã khiêm tốn thẳm sâu đến nỗi để cho mình bị kẻ khác ruồng bỏ và chết trên cây thập giá. Tuy nhiên, nhờ vậy mà Ngài đã Phục Sinh và sống muôn đời. Có thể nào khác hơn được đối với các môn đệ của Ngài chăng?

 

7. Suy niệm của JKN.

 

VÌ THĂNG TIẾN BẢN THÂN HAY VÌ ĐẠI CUỘC NƯỚC TRỜI?

1. Bối cảnh của bài Tin Mừng

Đức Giêsu và các môn đệ đi băng qua miền Galilê một cách âm thầm không cho ai biết. Ngài muốn tạm gác việc loan báo Tin Mừng, giảng dạy và chữa bệnh cho dân chúng qua một bên để có thì giờ dạy dỗ các môn đệ, đặc biệt báo cho các ông biết một viễn cảnh sắp xảy ra mà các ông khó có thể hiểu và chấp nhận. Đó là «Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người…». Phải báo trước viễn cảnh ấy để chuẩn bị tinh thần cho các ông, để các ông không quá ngỡ ngàng và thất vọng khi nó xảy đến, mà sẵn sàng đón nhận nó. Đây không phải lần đầu tiên Ngài nói với các môn đệ điều này, Ngài đã từng «nói rõ điều ấy không úp mở» với các ông trước đó không lâu (x. Mc 8,31-33), nhưng lúc đó các ông tỏ ra không thể chấp nhận được. Thái độ không chấp nhận này đã bị Đức Giêsu quở trách rất nặng lời, đến nỗi Ngài đã gọi Phêrô là: “Xatan!” khi ông muốn can Ngài. Chính vì lần trước các ông bị quở trách nặng nề như thế, nên lần này bài Tin Mừng cho biết: “Các ông sợ không dám hỏi lại Người”.

Các môn đệ Đức Giêsu quan niệm rằng Thầy mình đến để giải phóng dân Do-thái về mặt chính trị, và Ngài sẽ làm vua. Điều các ông hằng mơ tưởng bấy lâu nay là: mai mốt khi Thầy mình làm vua thì mình cũng sẽ làm quan, nắm những chức vụ chủ chốt trong triều đình của Ngài. Nhưng những chức vụ chủ chốt ấy dẫu sao vẫn có chức lớn hơn chức nhỏ hơn, thế là các ông bàn tán với nhau xem ai là người được Đức Giêsu giao cho chức vụ lớn nhất. Nhưng thực tế không xảy ra như các ông nghĩ. Cách suy nghĩ của Thiên Chúa khác hẳn với cách suy nghĩ của con người. Sở dĩ các ông không thể chấp nhận việc Ngài chết, vì nếu Ngài chết thì những mơ tưởng đẹp đẽ của các ông sẽ biến thành mây khói, và các ông sẽ lại trở về với những thực tại tầm thường của mình.

2. Hai não trạng: một vì đại cuộc, một vì thăng tiến bản thân

Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy hai quan niệm, hai não trạng khác nhau giữa Đức Giêsu và các môn đệ Ngài. Đức Giêsu thì quan tâm tới đại cuộc của Thiên Chúa, và sẵn sàng hy sinh tất cả cho đại cuộc ấy. Còn các môn đệ thì lòng trí đang bị thu hút vào việc thăng tiến bản thân, coi việc được làm môn đệ Đức Giêsu như một cơ hội hết sức thuận lợi cho việc thăng tiến ấy. Các ông chưa nghĩ gì tới đại cuộc cũng như việc hy sinh cho đại cuộc cả. Não trạng của các môn đệ cũng là não trạng của tuyệt đại đa số Kitô hữu chúng ta. Nhưng muốn thật sự theo Đức Giêsu, tất cả chúng ta đều cần phải sửa đổi lại cách suy nghĩ của mình, đồng thời mặc lấy cách quan niệm và suy nghĩ của Ngài, là Thầy của chúng ta.

Thực ra, quan tâm hay lo lắng cho việc thăng tiến bản thân tự nó là điều rất tốt, đó là một động lực hợp pháp và tốt lành đã tạo nên biết bao nỗ lực hay công việc tốt đẹp ở trần gian này. Tuy nhiên, đối với những tâm hồn thiếu tình thương, ích kỷ, thiếu đạo đức, việc thăng tiến bản thân cũng là động lực làm nên bao tội ác. Biết bao người sẵn sàng đạp trên đầu trên cổ người khác, sẵn sàng âm mưu thâm độc, bỉ ổi, hèn hạ để hại người, giết người, hầu bước lên những địa vị cao cả ngoài xã hội cũng như trong Giáo Hội. Vì thế, lòng ham muốn thăng tiến bản thân là một con dao hai lưỡi: nó có thể tốt mà cũng có thể xấu. Nó chỉ tốt khi nào ta đặt nó dưới sự chỉ đạo của Luật Chúa, của tình thương, của lương tâm.

Đối với những người thật sự muốn theo Chúa và tiến tới trên con đường nhân đức, thánh thiện, thì cần phải coi rất nhẹ việc thăng tiến bản thân để có thể hết mình với đại cuộc của Thiên Chúa. Để sẵn sàng hy sinh tất cả, dẫu là những cơ hội thăng tiến bản thân, thậm chí cả mạng sống mình, cho đại cuộc của Thiên Chúa. Đại cuộc của Thiên Chúa chính là kế hoạch cứu độ nhân loại, thăng tiến tâm linh con người, thực hiện Nước Trời không chỉ trong thế giới mai hậu mà còn ở ngay trần gian này.

Nói thế không có nghĩa là người theo Chúa phải luôn luôn khước từ mọi cơ hội thăng tiến bản thân, từ bỏ mọi địa vị hay quyền lực. Người thật sự hiến mình cho đại cuộc chỉ coi địa vị, quyền lực, danh vọng như những phương tiện để thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa, để phục vụ con người, và coi bản thân mình chỉ là dụng cụ mà Thiên Chúa dùng để thực hiện kế hoạch của Ngài mà thôi. Thái độ của họ đối với địa vị, quyền lực, danh vọng là không ham muốn cũng không tránh né: sẵn sàng đảm nhận khi thấy đó là một phương tiện để phục vụ tốt, nhưng cũng sẵn sàng từ khước khi thấy mình bất xứng hay khi có người khác xứng đáng hơn…

Một số khá đông người trong Giáo Hội – từ giáo dân cho đến giáo sĩ – coi việc làm tông đồ, đời tu trì… như những cơ hội hay môi trường thuận lợi để thăng tiến bản thân mình. Họ cũng tỏ ra rất hăng hái nhiệt thành trong công việc của Chúa, nhưng động cơ thúc đẩy lại mang tính vị kỷ chứ không phải vị tha. Khi đã đạt được những chức vị cao trong Giáo Hội theo khả năng của mình, họ trở nên ù lỳ, ngại dấn thân, thích hưởng thụ… vì mục tiêu đã đạt được, không cần phải phấn đấu để lên cao hơn nữa… Nếu những cấp lãnh đạo Giáo Hội gồm toàn những hạng người này, thì Giáo Hội sẽ bị trì trệ, không phát triển được, nhất là khi Giáo Hội gặp phải những giai đoạn khó khăn, bị bách hại, đòi hỏi các cấp lãnh đạo phải dấn thân, phải thật sự hy sinh và quảng đại cho Giáo Hội.

3. Người làm lớn phải có tinh thần phục vụ cao

Bất kỳ tập thể nào – trong Giáo Hội hay ngoài xã hội – muốn thăng tiến cũng đều cần có những người tài đức biết quên mình để phục vụ cho sự phát triển và thăng tiến của tập thể. Nhưng những người phục vụ cho sự phát triển tập thể có thể được thúc đẩy bởi một trong hai động lực trái ngược nhau. Một đằng thật sự vì đại cuộc, vì ích lợi chung của tập thể. Và một đằng vì sự thăng tiến của bản thân (để đạt được những chức vụ cao, để nắm quyền hành trong tay, để được nổi tiếng, được ca tụng, tung hô, nể phục, để thỏa mãn nhu cầu “phình to bản ngã”, để hưởng thụ cuộc đời). Người thật sự vì đại cuộc có thể hy sinh tất cả cho đại cuộc, còn người vì sự thăng tiến bản thân thì lại sẵn sàng hy sinh đại cuộc cho sự thăng tiến của mình. Hạng này coi đại cuộc như một phương tiện hữu hiệu để mình tiến thân.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, trước tinh thần vì sự thăng tiến bản thân hơn là vì đại cuộc của các môn đệ, Đức Giêsu đưa ra nguyên tắc cho Nước Trời và Giáo Hội của Ngài: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”. Ngài muốn khuyên những ai đang muốn thăng tiến bản thân hãy từ bỏ ý hướng vị kỷ ấy để hướng lòng về đại cuộc, về hạnh phúc chung của tất cả mọi người. Chỉ những người có tinh thần cao cả như thế mới xứng đáng làm lớn, giữ địa vị lãnh đạo. Và chỉ khi những người này nắm quyền lãnh đạo, Giáo Hội hay xã hội mới thật sự thăng tiến và phát triển.

Để cụ thể hóa tinh thần ấy, Người đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy” Ngài muốn nói: người làm lớn phải coi trọng và phục vụ tất cả mọi người, dù là người bé mọn nhất trong xã hội hay Giáo Hội. Tính phân biệt giầu nghèo, sang hèn, thánh phàm, giáo sĩ giáo dân… đều không xứng hợp với những người lãnh đạo trong Giáo Hội hay trong Nước Trời. Khi đối xử tốt với một người giàu có hay có chức vị lớn, rất có thể ta làm vì một ý đồ ích kỷ. Nhưng khi đối xử tốt với một người nghèo hay một kẻ bé mọn, một trẻ em, thì việc đối xử ấy thường không vì một ý đồ ích kỷ mà vì tình thương. Đó cũng chính là làm cho Thiên Chúa hay Đức Giêsu. Cách hành động vị tha như thế phải là hành động của những người làm lớn trong Giáo Hội: luôn luôn hành động vì ích lợi hay hạnh phúc của mọi người chứ không vì sự thăng tiến hay hạnh phúc của mình.

 

8. Khuôn mặt rạng rỡ – Lm. Mark Link SJ.

 

Một thầy giáo ra bài làm ở nhà cho các học sinh: “Hãy viết lại quãng thời gian trong cuộc đời mà em là ‘một người Samari tốt lành’ đối với ai đó.” Một trong các học sinh đã viết bài ấy như sau:

“Vào mùa hè trước khi tôi lên trung học, giáo xứ chúng tôi tổ chức một ngày đi thăm người già và người tàn tật ở một bệnh viện gần đó. Cả một dẫy xe lăn và bệnh nhân làm tôi choáng váng. Lúc đầu tôi chỉ nhìn thấy xe lăn.

“Sau đó tôi nhận thấy có người ngồi xe lăn nhìn chăm chăm vào đôi chân của tôi.

“Chỉ có thế. Bấy giờ tôi không chỉ nhìn đến xe lăn và tôi bắt đầu nhìn thấy người ngồi trong đó. Tôi thấy các bà tàn tật, những cựu chiến binh bị tê liệt, những ông già không ai chăm sóc, các em nhỏ thật mảnh khảnh. Tất cả đang chờ đợi xem có ai đó để ý đến họ. Tôi ngột ngạt; vội vàng bước đi.

“Tôi rảo bước quanh bệnh viện có đến một giờ đồng hồ. Tôi cảm thấy tức giận Thiên Chúa và hoàn toàn hoang mang khi thấy quá nhiều sự đau khổ trong một nơi chốn. Tôi cảm thấy cô đơn hơn bất cứ bệnh nhân nào. Tôi là người cần sự giúp đỡ, chứ không phải họ.

“Nhưng một lúc sau, vị Thiên Chúa mà tôi trút sự giận dữ lên Người bỗng dưng trở nên thực tế hơn bao giờ hết trong cuộc đời. Tôi cảm thấy Thiên Chúa đã yêu thương những người này một cách đặc biệt.

“Đó là một cảm nghiệm kỳ lạ; bỗng dưng đức tin sút giảm và bỗng dưng đức tin gia tăng–tất cả xảy ra trong khoảng khắc.

“Tôi trở lại nơi có những người già và tàn tật. Và tôi bắt đầu làm bất cứ gì có thể để làm họ vui: lấy cho họ ly nước ngọt và chỉ nói chuyện với họ. Tôi làm cho gương mặt họ sáng lên vào buổi chiều hôm ấy.

“Nhưng trong tất cả các khuôn mặt rạng rỡ hôm ấy, một khuôn mặt nổi bật hơn tất cả. Tôi không bao giờ quên được khuôn mặt ấy. Đó là khuôn mặt của chính tôi. Chưa bao giờ tôi cảm thấy mình tốt lành đến thế; chưa bao giờ tôi cảm thấy vui như vậy.”

Câu chuyện này thích hợp với bài đọc ngày hôm nay. Đặc biệt, nó thích hợp với điều mà Chúa Giêsu nói với các môn đệ sau khi họ cãi nhau xem ai là người lớn nhất.

Chúa Giêsu nói, “Ai muốn là người đầu thì phải tự đặt mình chót hết và trở thành người phục vụ tất cả” (Mc 9:35).

Và vì vậy Chúa Giêsu đã dùng cơ hội này để nhấn mạnh đến một chủ đề nổi bật trong phúc âm: giúp đỡ người khác, nhất là người có nhu cầu. Chúng ta hãy xem xét chủ đề này kỹ hơn.

Hãy nhìn đến chủ đề từ hai quan điểm. Trước hết, hãy nhìn nó dưới quan điểm của người có nhu cầu. Thứ hai, hãy nhìn nó dưới quan điểm của những người giúp đỡ.

Trong cuốn sách Majority of One, tác giả Sydney Harris đã diễn tả quãng thời gian ông bị gẫy xương ở bàn chân, khiến ông phải chống gậy đi khập khiễng trong vài ngày. Về cảm nghiệm này, ông viết:

“Điều khoan khoái về cảm nghiệm này mà nếu không có nó sẽ thật đau lòng là phương cách người ta đối xử với tôi. Họ mở cửa cho tôi, giúp tôi bước lên xe taxi, nhường chỗ cho tôi trong thang máy. Tinh thần tôi phấn khởi khi được đối xử như vậy.”

Nhận xét của ông Harris cho thấy sự phục vụ đã làm gì theo quan điểm của người có nhu cầu. Nó đã làm cho khuôn mặt họ rạng rỡ. Nó làm họ cảm thấy có người lo lắng đến họ. Nó làm họ cảm thấy có người thương mến họ.

Điều này đưa chúng ta đến quan điểm thứ hai: sự phục vụ làm gì cho những người giúp đỡ. Không có gì tốt hơn để minh họa bằng nhận xét của em học sinh trên, khi em nói:

“Tôi làm cho gương mặt họ sáng lên vào buổi chiều hôm ấy. Nhưng trong tất cả các khuôn mặt rạng rỡ hôm ấy, một khuôn mặt nổi bật hơn tất cả. Tôi không bao giờ quên được khuôn mặt ấy. Đó là khuôn mặt của chính tôi. Chưa bao giờ tôi cảm thấy mình tốt lành đến thế; chưa bao giờ tôi cảm thấy vui như vậy.”

Sự nhận xét của em minh họa điều mà sự phục vụ đã làm cho những người giúp đỡ. Nó làm cho gương mặt họ rạng rỡ hơn cả khuôn mặt của những người được sự giúp đỡ.

Và tôi nghĩ lý do của điều này thật đơn giản. Nó phát xuất từ điều mà chúng ta quên. Nó xuất phát từ điều mà chúng ta không thấy. Nó phát xuất từ điều mà chúng ta cần được nhắc nhở luôn luôn. Để tôi minh hoạ bằng một câu chuyện.

Có một bức tranh thời thế kỷ 19 vẽ một hàng dài những người nghèo trong một khu tồi tàn của thành phố, họ đang đứng đợi trước một nhà phát chẩn.

Đó là một bức tranh đáng chú ý. Nhưng điều đáng chú ý nhất trong bức tranh là một trong những người nghèo đứng xếp hàng. Ông ta có vòng hào quang trên đầu. Nhìn kỹ lại thì đó là Chúa Giêsu. Và điều này cho chúng ta thấy lý do mà khuôn mặt những người giúp đỡ lại rực rỡ hơn những người được giúp đỡ. Chính vì khi giúp đỡ người nghèo, họ khám phá ra Chúa Giêsu trong thế giới ngày nay. Người ở ngay trong những người có nhu cầu.

Đây là điều chúng ta quên. Đây là điều chúng ta không thấy. Đây là điều chúng ta cần được nhắc đi nhắc lại.

Vì không ai khác hơn là chính Chúa Giêsu đã nói: “Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han… mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy!” (Mt 25:35-36, 40).

Chúng ta hãy chấm dứt bằng sự thành khẩn lắng nghe lời mạnh mẽ của Albert Schweitzer, một trong những Kitô Hữu vĩ đại trong thế kỷ của chúng ta.

Vào lúc 30 tuổi, ông hy sinh sự nghiệp của một nghệ sĩ trình tấu cho những người nhà giầu ở Âu Châu và trở nên một bác sĩ đi truyền giáo và chăm sóc người nghèo ở Phi Châu. Khi về già, ông nói:

“Tôi không biết định mệnh của bạn ra sao, nhưng tôi biết chắc một điều: chỉ có người thực sự hạnh phúc là người tìm cách phục vụ người khác.”

Chúng ta hãy lập lại những lời này một lần nữa vì chúng thật quan trọng.

“Tôi không biết định mệnh của bạn ra sao, nhưng tôi biết chắc một điều: chỉ có người thực sự hạnh phúc là người tìm cách phục vụ người khác.”

 

9. Chú giải của Noel Quesson.

 

Đức Giêsu và các môn đệ ra khỏi đó, đi băng qua miền Galilê. Nhưng Đức Giêsu không muốn cho ai biết.

Một lần nữa, chúng ta lặp lại đề tài Chúa muốn ẩn thân. Đức Giêsu không được người ta hiểu, bị đám đông dân chúng bỏ rơi, bây giờ hoàn toàn chỉ chăm lo cách riêng vào việc đào tạo một số môn đệ của Người.

Phát xuất từ những vùng miền Bắc đi về miền Xêxarê Phi-líp-phê, ở nguồn sông Giođan, Đức Giêsu tiến gần về Giê-ru-sa-lem. Người băng qua xứ Galilê mà ở đó cách đây vài tháng Người đã rất thành công, nhưng một sự thành công không rõ rệt. Lần này Người không tìm dịp nói chuyện trước công chúng. Người chỉ nói với các tông đồ, là mầm mống của cộng đoàn Kitô hữu tương lai và những gì Người sắp nói với họ, là chính những luật lệ giúp họ sống trong cộng đoàn Giáo Hội.

Vì Người đang dạy các môn đệ rằng: “Con người sẽ bị nộp vào tay người đời”.

Trong khi Đức Giêsu không muốn người ta dùng tước vị “Con Thiên Chúa”. Người luôn đúng, nhất là trong giai đoạn thứ hai đời sống tác vụ của Người, tước vị “Con Người”. Ngược lại những gì thoạt tiên chúng ta có thể nghĩ, đây không phải là việc nhấn mạnh đến nhân tính của Đức Giêsu. Thực tế, những Kitô hữu đầu tiên, phát xuất từ đạo Do Thái đã gán cho tước vị này một ý nghĩa sâu đậm: Đối với họ, tước vị này ám chỉ Đấng Mêsia do ngôn sứ Đanien đã báo trước (7,13-14). “Con Người” này có nguồn cội từ trời, Người từ trên mây trời mà xuống… Người đến nhân danh Thiên Chúa để hoàn tất công trình của Chúa.

Chúng ta thấy cách nói của Đức Giêsu muốn điều chỉnh lại ý niệm mà các tông đồ đã có về Đấng Mêsia. “Con Người Thần Thánh” từ trên mây trời hiện đến cách vinh quang mà các bạn đang mơ ước, thì Đấng đó sẽ bị giao nộp không chút tự vệ “vào tay loài người”. Các bạn chớ nhầm lẫn Đấng Mêsia, chớ nhầm lẫn Thiên Chúa! Đức Giêsu thực sự do Thiên Chúa mà đến, nhưng không phải là Đấng mà loài người thường tưởng nghĩ.

Bị giao nộp.

Một Thiên Chúa ‘bị giao nộp’, một Thiên Chúa được ‘tăng ban’, một Thiên Chúa ‘Tình yêu’ chứ không phải một Thiên Chúa toàn năng, toàn quyền. Chúng ta tin không phải ở một Thiên Chúa toàn năng, nhưng là một Người Cha Toàn Năng, tin ở Đấng đã trao hiến hết mình, Đấng đã giao nộp mình vì chúng ta, mà Thập giá của Đức Giêsu là “mạc khải” rõ ràng và dứt khoát.

Cụm từ “bị giao nộp vì chúng ta” là những từ chủ yếu trong khoa thần học ban sơ. “Bị giao nộp vì tội lỗi chúng ta, và đã được Thiên Chúa làm cho sống lại để chúng ta được nên công chính” (Rm 4,25).

“Người đã không tha chính con của Người, mà đã giao nộp cho tất cả chúng ta” (Rm 8,32).

“Người đã thương yêu và thí mạng vì tôi” (Gl 2,20).

“Anh em hãy sống trong tình bác ái như Chúa Kitô đã thương yêu chúng ta và đã nộp mình” (Ep 5,2).

“Chúa đã giao nộp Người vì tội của chúng ta” (Is 53,2).

Chứng từ này được nhắc lại cho chúng ta mỗi khi cử hành Thánh Thể; “Đây là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con”.

Họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau, Người sẽ sống lại.

Kể từ lúc Thánh Phêrô tuyên xưng đức tin tại Xêxarê Phi-líp-phê, thì đây là việc loan báo lần thứ hai về cuộc thương khó. Toàn thể Tin Mừng của Maccô dẫn đưa chúng ta đến chóp đỉnh này: Sự tử nạn và Phục sinh. Đó là trọng tâm kinh Tin kính của chúng ta: Hai biến cố lịch sử. Đây thật là tiểu sử lạ lùng của một con người. Không phải sự sống của Người là quan trọng mà là “cái chết” của Người và việc Người “sống mãi”. Chúng ta không thể không lưu ý con người đó luôn luôn báo trước, cùng một lúc và một cách bình tĩnh rằng, Người sẽ “sống lại” sau khi chết. Đó cũng như Người coi cuộc sống thứ nhất của Người ở Palestine thời đó, không phải là cuộc sống quan trọng nhất.

Ngày nay, chúng ta có thực sự tin rằng Đức Giêsu vẫn đang sống không?

Mầu nhiệm Phục sinh là cốt yếu của Đức tin chúng ta. Và đó là đặc quyền duy nhất và căn cốt của Đức Giêsu. Không có một vĩ nhân nào khác dám tự phụ giải phóng được con người, khỏi định mệnh cuối cùng, là cái chết. Cả Đức Phật và Mahômét hay bất cứ một chủ thuyết nhân bản nào khác, cũng không đưa ra được một giải pháp trước thái độ lo âu lớn lao của con người luôn biết mình sẽ phải chết. Chỉ có Đức Giêsu, một cách bình tĩnh và chân thành đã dám nói: “Họ sẽ giết Tôi, nhưng Tôi sẽ sống lại”.

Đó là ánh sáng chủ yếu Chúa đã soi chiếu trên cái chết: Đức Giêsu biết rằng đó không phải là chấm dứt tất cả. Người biết những gì đang chờ đợi Người. Khi trải qua giây phút bi thảm của “hơi thở cuối cùng”, Đức Giêsu biết rằng Người không rơi vào hố đen của hư vô, nhưng vào vòng tay của Chúa Cha. Và điều đó đã dệt nên bài ca hy vọng của người Kitô hữu trong nghi thức từ biệt cuối cùng với người chết: “Chúa Cha đợi bạn, và cánh tay của Thiên Chúa sẽ mở ra đón bạn”.

Chúng ta cứ tin chắc rằng cái chết là như vậy không? Đây là sứ điệp của mọi người tử vì đạo. Đó là niềm tin vững chắc của những tín hữu đích thực. Nhưng các môn đệ không hiểu lời ấy, lại sợ không dám hỏi Chúa. Tin Mừng không hề tô vẽ cho các tông đồ. Đó cũng là những con người đáng thương như chúng ta. Thánh Maccô không những nhấn mạnh đến trí óc trì trệ, nông cạn, hẹp hòi của các ông. “Họ không hiểu”(Mc 6,52; 8,17; 8,21; 9,32). Do đó nhóm Mười Hai là một tiêu biểu cho những con người thông thường, trung bình. Người ta tự hỏi làm sao Giáo Hội và suốt dòng lịch sử vĩ đại của Giáo Hội, lại phát sinh từ những tưởng tượng và dự án của các tông đồ được. Quả thực các ông đã được một biến cố thay đổi. Các ông đã được nâng lên cao khỏi chính mình, và được một sức mạnh mới bao bọc. Và luôn diễn ra như thế đối với Giáo Hội.

Nếu chỉ là một Giáo Hội của loài người, thì Giáo Hội đã bị tiêu diệt từ lâu bởi những khiếm khuyết và tội lỗi của các nhà lãnh đạo và thành phần của Giáo Hội. Nhưng chúng ta có nên xét đoán Giáo Hội đơn thuần theo quan điểm của con người không?

Trong lúc này, các tông đồ đã sợ Đức Giêsu và họ giữ một thứ im lặng đến khó chịu “họ đã sợ không dám hỏi Chúa”.

Đức Giêsu và các môn đệ đến thành phố Caphácnaum. Khi về tới nhà, Đức Giêsu hỏi các ông: “Dọc đường, anh em đã tranh luận với nhau về chuyện gì vậy?”. Các ông làm thinh.

Các ông chưa nói được lời nào. Các ông giữ im lặng trước câu hỏi của Chúa. Sự “lúng túng” giữa họ trở nên nặng nề như trong một nhóm mà người ta không còn đồng ý với nhau nữa.

Các ông làm thinh, vì khi đi đường, các ông đã cãi nhau về chuyện ai là người lớn hơn cả.

Thật là hoàn toàn bất đồng ý kiến với Thầy của họ!

Chúa thì nghĩ đến cái chết của mình, khiến Người “giao nộp” mạng sống. Còn các ông thì chỉ nghĩ đến những “địa vị cao”. Các ông vẫn một mực bám vào quan niệm sai lầm về Đấng Mêsia, và về Thiên Chúa. Các ông vẫn tiếp tục mong chờ một “biến cố vẻ vang”, chứng tỏ quyền năng của Đấng Mêsia, một vương quốc trần gian, mà các ông đã tranh luận xem ai là “thủ tướng” khi Chúa và các ông thắng thế.

Nhưng xin các bạn đừng quá nghiêm khắc xét đoán việc các Ngài không hiểu vai trò của Chúa Giêsu. Mặc dù đã được soi dẫn với ánh sáng Phục sinh, ngày nay, chúng ta có thể nói rằng mình chấp nhận sự vắng mặt hiển nhiên của Thiên Chúa, sự im lặng của Người, sự thất bại của Thập giá không? Chúng ta không tiếp tục xin Chúa can thiệp để chiến thắng sao?

Rồi Đức Giêsu ngồi xuống, gọi mười hai môn đệ lại mà nói: “Ai muốn làm đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm tôi tớ mọi người”.

Trong cuộc thương khó mà Chúa vừa loan báo, Chúa Giêsu đã tự hạ thành “kẻ sau rốt và là “đầy tớ” của mọi người. Thực sự, Thiên Chúa là như thế. Tại sao lời khẳng định này lại có vẻ như một cậu phạm thượng đối với một số người? Đúng ra, Thiên Chúa là Đấng trên hết, cao cả nhất, nhưng Chúa cũng là “Người đứng đầu trong phục vụ”, Người đứng đầu trong tình yêu.

Các con gọi Ta là Thầy, là Chúa và điều đó phải lắm, vì Ta đúng là như thế, thế mà Ta đã rửa chân cho các con, như một người đầy tớ” (Ga 13,13). Thiên Chúa thực sự là Đấng Toàn Năng, nhưng là Toàn Năng để “phục vụ đến cùng”. “Ta ở giữa các con như một người phục vụ” (Lc 22,27). “Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng làm giá cứu chuộc muôn người” (Mc 10,42-45).

Trong xã hội và tập thể con người (và cũng là luật tự nhiên trong thế giới động vật), người ta thường tìm kiếm sức mạnh, sự kính nể, uy tín, danh dự và quyền lợi. Đức Giêsu lật đổ nhào tận gốc rễ thứ trật tự này: Người “thứ nhất” trở thành “người sau rốt”, “ông chủ” trở nên “đầy tớ”. Chắc chắn Đức Giêsu đã nói một cách có vẻ khiêu khích và cách mạng.

Nhưng một lần nữa, đó không phải là để làm một cuộc “cách mạng” nghĩa là thay đổi “chữ” mà thôi! ở đây, nhằm đưa ra giải pháp thực sự cho nội tâm con người, giúp chế ngự xu hướng tranh đấu không ngừng giữa loài người, để thống trị để đoạt giầu sang, quyền thế, bằng cách đè bẹp người khác.

Người dắt một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai đón tiếp một em nhỏ như em này, vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”.

Trong những tập thể chúng ta sống, trong lòng chúng ta và trên thế giới, bạo lực không ngớt gia tăng. Trong cơn thủy triều đen tối đang dâng lên như thế, Đức Giêsu đề nghị cách tượng trưng sự yếu đuối của đứa trẻ như một lý tưởng. Đứa trẻ là sinh vật nhỏ bé trong xã hội, ít được kính nể, và người ta gạt bỏ nó dễ dàng, kể cả bằng cách tội lỗi mà lại hợp pháp. Đứa trẻ đúng là kẻ “nghèo hèn”, không tự vệ được, “bị giao nộp” cho những kẻ mạnh mẽ quyền thế hơn nó. Nhưng Chúa lật ngược những tiêu chuẩn xã hội về quan niệm ngôi thứ: Người ta nói, kẻ sau rốt là kẻ đứng đầu. Bây giờ Người nói tiếp, dưới mắt Thiên Chúa kẻ nhỏ bé lại là người lớn nhất. Đức Giêsu đặt đứa trẻ ở giữa cộng đoàn Kitô hữu.

Tôi dành ít thời giờ để niệm tưởng hình ảnh Đức Giêsu đang vuốt ve và ôm ấp đứa bé này. Sự cao cả của Kitô hữu được đo nghiệm theo phẩm chất của việc phục vụ những người “thấp hèn” nhất, những kẻ kém may mắn nhất. Chúng ta sẽ bị xét đoán theo tiêu chuẩn đó (Mt (25,31). Vả lại, đây không phải là một sự “nô lệ”, vì chúng ta phục vụ Đức Giêsu khi chúng ta phục vụ những kẻ thấp hèn. Và qua Đức Giêsu, chúng ta phục vụ chính “Đấng” đã tạo nên thế gian và đã trao ban Con Một của Người.

Các bài mới
Các bài đã đăng