Suy niệm Lời Chúa
CÁC BÀI SUY NIỆM CN 23 THƯỜNG NIÊN NĂM B
Đăng lúc: 08:18 | 07/09/2018
Lượt xem: 89
Muốn được chữa khỏi sự câm điếc trong tâm hồn, chúng ta cần phải có những bước đi của người câm điếc trong Tin Mừng hôm nay. Đó là: để cho Chúa kéo ra khỏi đám đông là những thói quen cũ, cùng những thói xấu và sự lười biếng để ở riêng một mình với Chúa trong cầu nguyện và gặp gỡ Chúa mỗi ngày.
CÁC BÀI SUY NIỆM CN 23 THƯỜNG NIÊN NĂM B

CÁC BÀI SUY NIỆM CN 23 THƯỜNG NIÊN NĂM B

Mc 7,31-37

 

1. NGƯỜI LÀM MỌI SỰ TỐT ĐẸP

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Người làm mọi sự tốt đẹp

Trình thuật Sáng Tạo kể về những việc Chúa làm khi tạo dựng vũ trụ, sau mỗi việc đề có câu : “Thiên Chúa thấy mọi việc Ngài làm : thật tốt đẹp” (St 1,31)… Tin Mừng cũng thuật lại công trình cứu chuộc và sáng tạo mới theo cùng một cách nói : “Người làm mọi sự tốt đẹp” (Mc 7,37) … Tất nhiên, tự bản chất, lửa chỉ có thể tỏa nhiệt nóng, chứ không thể phát sinh tiết lạnh; mặt trời chỉ khuếch tán ánh sáng, chứ không thể là nguyên nhân của bóng tối được. Cũng vậy, Thiên Chúa là Đấng lòng lành vô cùng, nên mọi việc người làm đều tốt đẹp. Chúa là ánh sáng, là mặt trời chiếu tỏa ánh sáng vô biên, sưởi ấm vũ trụ muôn loài : “Ngài làm mọi việc tốt đẹp” …

Kinh Thánh Cựu Ước cũng như Tân Ước mô tả : mọi việc Chúa làm đều tốt đẹp. Nhưng, làm những điều tốt đẹp không đơn giản là làm những điều đúng. Thực tế, có nhiều người làm những điều tốt đẹp nhưng lại không làm đúng, giống như những kẻ giả hình làm việc tốt, nhưng tinh thần xấu, nghĩa là làm với một ý định sai lầm và ác ý. Thiên Chúa làm mọi việc tốt lành, và Ngài làm tốt chúng. “Chúa chính trực trong mọi lời Chúa phán, và nhân nghĩa nơi mọi việc Chúa làm” (Tv 144,17).

Chữa một tấm lòng câm và điếc

Đoạn Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu chữa một người câm điếc. Kết đoạn, những người chứng kiến lòng đầy thán phục và rằng “Người làm mọi sự tốt đẹp” (Mc 7,37). Chúng ta đừng quên rằng Đấng Mêssia, Ngôi Lời nhập thể không chỉ đến để chữa bệnh và khuyết tật về thể lý cho con người nói chung và dân Israel nói riêng, dân theo các tiên tri, vì bị bệnh nặng tai không thể nghe rõ Lời Chúa nói nên không trả lời đúng.

Phép lạ Chúa Giêsu chữa kẻ câm điếc diễn ra trên địa Decapolis cho thấy Chúa Kitô, Lời Thiên Chúa đến ngỏ lời với toàn thể nhân loại và muốn chữa lành nhưng ai không lắng nghe Thiên Chúa, nghĩa là đang ở trong tình trạng tội lỗi cần phải cứu.

Chúa Giêsu thi hành sứ mạng vượt ra khỏi dân Israel, mặc khải cho cả nhân loại. Vùng đất dân ngoại chứng tỏ Chúa đang hiện diện, cả lúc chúng ta không thấy Chúa, “vùng đất của dân ngoại” đang trong tình trạng nhơ bẩn tội lỗi cũng có Chúa vẫn hiện diện. Người đến cứu chuộc tất cả những ai cầu cứu. Trước khi làm phép lạ chữa người câm, Con Thiên Chúa ngước mắt lên trời cầu nguyện, một cử chỉ giống như Người làm trước khi hóa bánh và cá (x. Mc 6,41). Chúa Giêsu không đơn giản là một tiên tri, Người là chính Thiên Chúa. Có lúc Chúa Giêsu làm phép lạ do quyền năng Lời Chúa. Tuy nhiên, trong trường hợp người câm, Chúa Giêsu cầu cùng Thiên Chúa Cha, để dạy cho chúng ta biết rằng ơn cứu độ là ân sủng do Thiên Chúa tặng ban, một món quà cần phải cầu xin với lòng thành thực.

Việc Chúa Giêsu chữa một người về mặt thể lý ám chỉ điều Chúa muốn chữa mỗi người chúng ta về phương diện tinh thần. Chúa Kitô chạm vào thân xác để chữa lành tinh thần. Người câm điếc được Chúa Kitô chữa lành là người trước đây không thể giao tiếp hay nghe người khác, ngày cả thể hiện cảm xúc cũng như nhu cầu của mình cũng khó. Nếu bệnh câm điếc là nét đặc trưng của người không có khả năng giao tiếp với người bên cạnh, để có được quan hệ  tối thiếu tốt đẹp rõ ràng, thì chúng ta phải thừa nhận ra rằng tất cả chúng ta ít nhiều bị câm điếc khi không nghe được Chúa nói, không biết cầu nguyện. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu thở dài và nói với mọi người: “Effata, hãy mở ra! ” Chúng ta hãy để Chúa Thánh Thần dẫn đến với Chúa, cầu xin Chúa mở tai chúng ta để chúng ta có thể nghe Lời Con Chúa.

Trái tim chữa lành nói ngôn ngữ của tình yêu

Giọng nói đầu tiên người được chữa lành nghe thấy là Lời Chúa Giêsu : “Effata, hãy mở ra ! ” Nhờ thế, người ấy có thể nghe Lời Chúa và đón nhận, tai mở ra ám chỉ niềm vui vì con tim được cởi trói, phẩm giá “người con” thuộc về Chúa thực sự được phục hồi.

Khi chịu phép Rửa, chúng ta cũng lặp lại từ “Effata – Hãy mở ra“, theo cách này, chúng ta trở thành con trong Con Thiên Chúa, nghe Lời Chúa, đối thoại với Chúa là Cha.

Để nghe Chúa Con, Lời Thiên Chúa, hầu nên giống Chúa Con. Nếu chúng ta kiên trì lắng nghe, chúng ta có thể thưa chuyện với Chúa trong tình yêu. Nếu chúng ta lắng nghe lời Đấng Kitô, chúng ta có thể nói như Đức Kitô. Nếu chúng ta mở lòng mình ra đối thoại và lắng nghe Chúa Cha, hay Lời tức là Chúa Giêsu Con Thiên Chúa, chúng ta có thể đáp lời Chúa bằng lời cầu nguyện của đời ta.

Trái tim được chữa lành để lắng nghe tiếng Chúa, cầu nguyện với Chúa và thông truyền tình yêu của Chúa cho nhân loại; qua Chúa Giêsu, chúng ta biết rằng đời sống Kitô hữu phụ thuộc vào lời cầu nguyện và lòng bác ái.

Lạy Chúa, xin mở tai con để con biết nghe lời Con Chúa và đem ra thực hành trong đời sống đượm tình bác ai yêu thương. Amen.

 

2. ÉP-PHA-TA

Lm. Nguyễn Thái

Trên một tờ báo ở thành phố Cincinnati, tiểu bang Ohio, có câu chuyện như sau. Tại một tiệm ăn rất nổi tiếng và đông khách, thường phải đợi một lúc lâu mới có bàn trống. Khi khách hàng vừa được dẫn vào bàn ăn, thì chú em lau bàn khoảng 14, hay 15 tuổi liền đến lau dọn những mảnh đồ ăn do những người khách trước làm rơi rớt xuống bàn. Khách hàng thường chào “Hello!” và cám ơn, nhưng chú em cứ cắm cúi lau dọn mà chẳng trả lời. Tiếp sau đó, cô hầu bàn đến lấy “order” và nói với khách hàng: “Xin lỗi Quý Vị! Chú em lau bàn này bị điếc và câm, chứ không phải em bất lịch sự đâu!” Chú em lau bàn cứ lẳng lặng đi làm việc từ bàn này qua bàn khác. Cô hầu bàn cũng đi theo vừa giải thích vừa lấy “order” của khách hàng.

Hình ảnh của hai người trong câu chuyện, một người cắm cúi làm việc, một người tươi cười duyên dáng đi giải thích, gây một ấn tượng mạnh mẽ. Chúng ta tự hỏi phải chăng hình ảnh của hai người này là biểu tượng của Vương Quốc Thiên Chúa?

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Mc 7:31-37, trên đường đi truyền giáo từ các vùng Tia Siđon và miền Thập Tỉnh, Chúa Giêsu chữa một người dân ngoại vừa điếc vừa câm. Ngài đã dùng những dấu hiệu để chữa lành: “đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh” (Mc 7:33). Rồi Người ngước mắt lên trời, và nói: “Ép-pha-tha”, nghĩa là “Hãy mở ra!” Tức khắc, anh ta bắt đầu nghe và nói được, rồi đi loan báo Tin Mừng cho mọi người biết.

Theo linh mục Eugene LaVerdière những chi tiết của câu chuyện đã bắt nguồn từ việc mục vụ của Chúa Giêsu, và phản ảnh lại qua những hình thức thực hành Bí Tích Rửa Tội của các tín hữu thời sơ khai (Emmanuel, Jesus among the Gentiles, 1990; GLCG # 1504). Hơn nữa, cha LaVerdière còn nhấn mạnh câu chuyện đã được kết hợp với việc Chúa Giêsu thành lập nhóm Mười Hai Tông Đồ (Mc 6:7-13) để sai các ông đi rao giảng, xức dầu và chữa dân chúng khỏi bệnh. Tất cả những biểu tượng này là sự thực hành có tính cách Bí Tích của các tín hữu lúc ban đầu. Như Sách Giáo Lý Công Giáo đã nói: “Trong khi giảng dạy, Chúa Giêsu thường sử dụng những dấu hiệu của vũ trụ vạn vật để giúp người ta hiểu biết những mầu nhiệm của Nước Thiên Chúa” (# 1151).

Phúc Âm hôm nay không quan tâm đến sự câm điếc thể lý của anh, nhưng nhấn mạnh đến sự câm điếc tinh thần. Thực vậy, bằng cách này hay cách khác, chúng ta cũng “điếc” trong việc lắng nghe tiếng Chúa nói với ta, và “câm miệng” trước việc rao giảng và làm chứng tá cho tình yêu Thiên Chúa. Phải thành thật thú nhận rằng nhiều khi chúng ta chưa nói lên đầy đủ sự thật của Tin Mừng. Chúng ta mới chỉ công bố một phần nào của Tin Mừng theo khía cạnh rất chủ quan của mình, theo thiên kiến hay ích lợi cá nhân. Vì thiếu sót trong việc lắng nghe tiếng Chúa nên chúng ta cũng khiếm khuyết trong việc rao giảng Tin Mừng cứu độ, và đặc biệt là sống điều đã rao giảng. Để sống điều được rao giảng, chúng ta cần sự giúp đỡ của nhiều người khác, nhất là tiếng nói của Giáo Hội.

Phúc Âm hôm nay nhấn mạnh đến lời mời gọi yêu thương của Thiên Chúa và việc loan báo Tin Mừng đến với tất cả mọi người, không phân biệt quốc gia, chủng tộc hay nam nữ. Mọi người được mời gọi tham gia vào Vương Quốc Thiên Chúa, một Vương Quốc của yêu thương, một trời mới và đất mới mà chúng ta hy vọng (Kh 21:1).

Trải qua nhiều thế kỷ, nhiều văn sĩ nổi tiếng đã mô tả một viễn tượng về một thế giới hoàn hảo nơi mà mọi người đều yêu thương hòa hợp với nhau và với Thiên Chúa. Tiên tri Isaia đã nói về việc sư tử nằm chung với chiên bò (Is 11: 6-9), giống như cảnh trong thơ Bùi Giáng diễn tả: “Hùm thiêng ba cặp từ bi, mười hai con mắt nhu mì mở ra.” Thánh Augustinô đã Kitô giáo hóa thế giới trong cuốn sách có tựa đề là “Thành Phố Của Thiên Chúa – The City of God.” Thánh Thomas More bàn về một nơi lý tưởng, với một hệ thống xã hội và chính trị hoàn hảo, gọi là Utopia, nhưng đã bị coi là không tưởng.

Thế nhưng, vào giữa thế kỷ thứ 20, do ảnh hưởng của những chế độ độc tài cũng như chiến tranh đã bóp méo đi những hình ảnh lý tưởng của dân chúng, một loại tiểu thuyết mới ra đời gọi là chống không tưởng: Anti-Utopia. Những cuốn tiểu thuyết này trình bày một thế giới mà tất cả mọi sự đều đi sai lạc hết. Hai cuốn nổi tiếng nhất là cuốn “Brave New World” của Adolph Huxley, và cuốn “1984” của George Orwell.

Cuốn “Brave New World” trình bày một xã hội bị thống trị bởi á phiện, xì ke, ma túy và khoái lạc mà không ai có thể thoát khỏi bị chi phối. Vài năm sau đó, cuốn “1984” đã được xuất bản, trình bày một thế giới bị kiểm soát hoàn toàn bởi quân phiệt, loại trừ mọi tự do của con người. “Big Brother is watching you – Mắt nhân dân như mắt khóm” đang theo dõi bạn. Sự sợ hãi ám ảnh con người trong các chế độ độc tài, tân phát- xít và quân phiệt đã phá hủy mọi thứ tự do căn bản của con người.

Sau khi cuốn “1984” ra đời, Orwell đã gửi tặng cho Huxley, tác giả cuốn “Brave New World” cuốn sách của mình. Đọc xong cuốn “1984”, Huxley đã không đồng ý và trả lời lại với một câu nói nổi tiếng rằng: “Không phải là sức mạnh quyền lực phá hủy chúng ta, nhưng là khát vọng khoái lạc khôn cùng phá hủy chúng ta.” Những gì xảy ra ở hậu bán thế kỷ 20 đã chứng minh cho câu nói của Huxley. Dù là một thế giới, một quốc gia, một gia đình, hay một cá nhân, chúng ta đã bị phá hủy bởi cái khát vọng khôn cùng của con người trong việc tìm kiếm khoái lạc, thỏa mãn những nhu cầu, và lòng tham lam ích kỷ không đáy của mình.

Trong Thánh Kinh, tội tổ tông là tội ông Adong và bà Evà muốn tự mình đi tìm kiếm khoái lạc. Đây không phải là vấn đề của trái cấm, nhưng là vấn đề của Adong và Evà muốn tự thỏa mãn lấy khát vọng của mình, không cần Thiên Chúa nữa: “Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ trở nên như những vị thần biết điều thiện điều ác” (St 3: 5). Khát vọng khôn cùng trong việc tìm kiếm khoái lạc đã làm cho con người trở nên ích kỷ. Sự ích kỷ làm chúng ta quên mất tình yêu Thiên Chúa và sự yêu mến tha nhân (Pl 2:3-4).

Tại một buổi tiệc chúc mừng Tiger Woods đoạt giải vô địch môn golf, chàng ca sĩ mù Stevie Wonder khoe với Tiger Woods rằng anh cũng là một tay đánh golf siêu hạng. Tiger bán tín bán nghi rằng làm sao một chàng ca sĩ mù lại có thể đánh golf được, nhưng anh cũng tỏ ra rất lịch sự trò chuyện cho vui. Chàng ca sĩ mù mới giải thích thêm: “Khi tôi bắt đầu chơi, “tee off”, tôi sẽ bảo một anh chàng đứng ở trên vùng cỏ xanh – “the green” gần lỗ, gọi tôi thật to. Tai tôi rất thính, tôi có thể điều khiển quả banh đi vào lỗ.” Tiger Woods cảm thấy thích thú với cách chơi golf của chàng ca sĩ mù. Thấy thế Stevie Wonder đề nghị chơi thử một vòng 18 lỗ với Tiger Woods. Khi Tiger Woods đồng ý chơi, chàng ca sĩ mù bèn thách thức: “Chơi đánh độ 100 ngàn đô la một ván?” Tiger Woods bèn lưỡng lự từ chối rằng anh không muốn chơi vì tiền, nhưng anh chàng ca sĩ mù lại cứ làm tới nài nỉ, đòi chơi đánh độ tới nỗi Tiger Woods phải nể nang và nói: “Được rồi, khi nào anh muốn chơi?” Chàng ca sĩ mù Stevie bèn cười xòa và nói: “Tôi sẽ chơi vào bất cứ đêm tối nào anh chọn lựa!”

Chàng ca sĩ mù đánh golf cần đến một người nào đó gọi thật lớn để anh biết đâu là đích điểm điều khiển trái banh vào lỗ. Cũng giống như thế, để cuộc sống luôn hướng về tình yêu Thiên Chúa và lòng yêu thương tha nhân, chúng ta cũng cần đến một người nào đó giúp đỡ, chúng ta không thể làm một mình! Nếu chúng ta muốn đôi tai và tâm trí mở ra, chúng ta phải làm việc chung với nhau, vì Thiên Chúa hoạt động qua những người xung quanh chúng ta (Cv 2:44).

Câu chuyện được kể về Thánh Phanxicô Assisi và những thầy dòng của ngài đi xuống làng để rao giảng Tin Mừng của Lời Chúa. Khi tới làng, họ đã nhanh chóng hòa đồng với dân làng trong những câu chuyện của cuộc sống và dành thời giờ để giúp đỡ họ trong công tác lao động. Các ngài đã đi vào cuộc sống của dân làng. Sau cùng, khi mặt trời sắp lặn, thánh Phanxicô nói với các thầy chuẩn bị trở về tu viện. Khi họ sắp sửa lên đường ra về, có một thầy thắc mắc hỏi: “Chúng ta đến đây chẳng phải để rao giảng Tin Mừng cho dân chúng sao? Khi nào chúng ta sẽ làm điều đó?” Thánh Phanxicô quay sang người anh em tu sĩ của mình và nói: “Nếu dân chúng làng này đã chưa nghe được Tin Mừng ngày hôm nay, thì việc rao giảng Thánh Kinh sẽ không giúp gì khác cho họ được!” Mọi người bèn lên đường quay trở về tu viện.

Tin Mừng được rao giảng bằng chính cuộc sống phục vụ và yêu thương của Thánh Phanxicô và các tu sĩ của ngài, không phải bằng lời nói mà bằng cuộc sống, không phải bằng trí não mà bằng con tim. Cái thế giới đại đồng hòa bình và yêu thương Thánh Phanxicô đề xướng ra vẫn là hình ảnh lý tưởng cho chúng ta mơ ước. Sự an bình ngay trong nội tâm của một người lan tỏa tới tha nhân, đến với thiên nhiên, và với Thiên Chúa. Đó chính là “Vương Quốc Thiên Chúa đã đến gần” mà Thánh Gioan Tẩy Giả đã rao giảng (Mc 1: 15).

Vương Quốc Thiên Chúa giống như chú em câm điếc siêng năng lau bàn và cô hầu bàn lịch sự cùng làm việc chung với nhau. Không ai có thể nghe được tiếng Chúa hoàn toàn. Không ai có thể nói lên được tình yêu Thiên Chúa một cách hoàn hảo. Chúng ta cần đến nhau, cùng nhau lắng nghe, cùng nhau nói lên tình yêu Thiên Chúa, và cùng nhau phục vụ Thiên Chúa (Cv 6:2-4). Đó là phương cách xây dựng

 

3. NGƯỜI CHỮA HỌ KHỎI CÂM ĐIẾC

Lm. Đinh Lập Liễm

Những Ai Bị Câm Điếc?

Nghe và nói là khả năng giúp con người giao tiếp và là phương tiện chủ yếu được dùng trong giao tiếp hằng ngày. Người kém khả năng này cũng dễ thành trò cười cho thiên hạ. Vì vậy nghe được và nói được là hồng ân rất lớn Chúa ban cho con người. Chúng ta phải sử dụng hai khả năng ấy cho phù hợp với thánh ý Chúa.

Thường thường những người mới sinh ra đã bị câm thì cũng bị điếc. Người bị câm và điếc thiệt thòi rất nhiều và mất nhiều hạnh phúc trong cuộc đời. Ngoài trường hợp câm điếc bẩm sinh, người ta có thể bị câm điếc vì một bệnh tật hay một tai nạn nào đó.

Người điếc biết mình không nghe được, nên trong đám đông khi có người tức tối hét vào tai, cố nói cho người ấy nghe, người ấy càng cảm thấy thất vọng hơn. Vì thế mới có lời kinh của người điếc: “Lạy Chúa, nỗi đau khổ mà người điếc phải gánh chịu là đa số thiên hạ xem họ như những người làm phiền người khác. Người ta thường thiện cảm với người mù, người què, nhưng lại thường nổi xung và bực bội với người điếc. Kết quả là người điếc thường phải trốn lánh bạn bè và càng ngày càng trở nên khép kín” (William Barclay).

Người câm điếc gặp khó khăn khi muốn trình bầy hay diễn đạt bằng lời nói cho người khác hiểu ý mình, nhưng họ lại cảm thấy ngại ngùng giống như có một sợi dây vô hình trói buộc, làm cho họ không thể nói ra. Tình trạng bất hạnh ấy dễ làm người ta mặc cảm. Không nói được mà cũng chẳng nghe được, tự thân đã khiến người bị tật khó hiểu thế giới bên ngoài, và thế giới bên ngoài càng khó hiểu người bị tật ấy. Do đó, người bị tật tự nhiên cảm thấy mình lẻ loi như đứng bên lề xã hội; họ có khuynh hướng muốn rút lui và sống trong cô đơn.

Hôm nay chúng ta thấy Đức Giêsu không chữa bệnh đơn giản như mọi khi, nghĩa là chỉ đặt tay hay dùng một lời nói để chữa bệnh: Ta muốn ngươi được khỏi bệnh! Đức Giêsu lại đưa anh chàng ra khỏi đám đông, xỏ ngón tay vào tai người câm điếc, bôi nước bọt vào lưỡi anh ta và ngước mắt lên trời rên lên: ”Epphata”: Hãy mở ra! (Mk 7:33-34).

Về cử chỉ xỏ ngón tay vào tai, bôi nước bọt vào lưỡi là cốt để khêu gợi đức tin là điều rất cần để Chúa ban ơn, mà bệnh nhân còn thiếu. Anh này điếc nên không nghe được, chỉ còn làm thế nào cho anh ta hiểu. Xỏ ngón tay vào tai và đụng vào lưỡi để cho anh ta hiểu rằng: đó là những kết quả anh mong đợi.

Phép lạ không chú trọng chữa lành thể chất của anh chàng vừa câm vừa điếc. Đúng hơn phép lạ chú trọng đến việc mở tai cho người ấy để anh ta có thể nghe Lời Chúa, và cởi trói cái lưỡi của anh để anh có thể tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu. Một người có thể nghe tốt, nhưng lại không nghe lời Chúa. Một người có thể nói sõi nhưng không thể tuyên xưng đức tin.

Khi chữa bệnh cho người câm điếc, Đức Giêsu nhằm đem lại cho người ấy khả năng nghe và nói được; nhưng Ngài còn muốn đi xa hơn, nghĩa là chữa bệnh câm điếc tinh thần hay thiêng liêng của con người. Câm và điếc thể chất thì ai cũng biết, còn bệnh câm điếc thiêng liêng thì chỉ có Chúa biết, và đôi khi đương sự cũng biết. Chúng ta cần bàn tới bệnh câm điếc thiêng liêng mà ai trong chúng ta cũng mắc phải không nhiều thì ít.

Nhiều người rất thính tai thể chất, nhưng lại điếc về tinh thần hay tâm linh. Họ rất thính tai khi nghe những gì liên quan tới danh vọng, tiền tài, sắc dục… nhưng lại trở nên giống như điếc khi nghe những điều hay lẽ phải, những chân lý đem lại sức mạnh tinh thần hay tâm linh, giúp họ sống yêu thương nhiều hơn. Nhiều người nói năng rất hoạt bát về đủ mọi đề tài… nhưng lại hành xử như người câm, hoặc cảm thấy rất ngượng nghịu, mắc cỡ khi phải nói lên lời hay lẽ phải, những lời chân thành yêu thương, những lời làm mát lòng người khác, những lời đem lại bình an, hòa thuận, những lời giúp mọi người hiểu ra đường ngay lẽ thật.

Đức Giêsu làm phép lạ này như đặt ngón tay vào tai, bôi nước miếng vào lưỡi và phán: ”Epphata” nghĩa là hãy mở ra tức thì tai anh mở ra, lưỡi anh được tháo gỡ và nói được, cũng là bài học cho các môn đệ và chúng ta. Người môn đệ Chúa phải là người cởi mở, vừa đón nhận, vừa thông truyền Lời Chúa. Phải mở tai để nghe Lời Chúa và mở miệng để tuyên xưng đức tin, như lời tiên tri Isaia từng nói: ”Đức Chúa đã cho tôi lưỡi của môn sinh, để tôi biết nâng đỡ người cùng khổ. Và sáng sáng, Người lay tỉnh tai tôi cho tôi biết nghe như những môn sinh” (Is 50,4).

Chúng ta phải phá bỏ bức tường câm điếc đã làm chúng ta xa cách tha nhân, không còn hiểu nhau, không còn thông cảm và thương yêu nhau, coi nhau như kẻ thù. Trái lại, phải xây lại nhịp cầu thông cảm và yêu thương mà chính Đức Giêsu đã ban cho chúng ta khi chịu phép Rửa tội. Trong ngày đó, chúng ta được cởi mở khỏi xiềng xích tội lỗi và được đàm đạo với Chúa như với người bạn chí thiết.

Ngày 13/08/1961, người ta xây một bức tường chưa từng thấy trong lịch sử loài người: cao 8 mét, dài 700 cây số ngăn đôi một gia đình, một thành phố, một dân tộc, một nước Đức, không ai được qua lại với nhau, coi nhau như kẻ thù ghê gớm. Ai vượt qua bức tường đó hoặc bị bắt hoặc bị bắn chết. Mãi đến 28 năm sau, ngày 13/11/1989 bức tường đó bị phá đổ, chấm dứt hận thù chia rẽ. Gia đình, dân tộc được đoàn tụ với nhau; nước Đức được thống nhất; thế giới chấm dứt chiến tranh lạnh, trở thành đồng minh đồng chí với nhau (Vũ khắc Nghiêm, Xây nhà trên đá, năm B, tr 175).

Chúa ban cho người câm điếc có thể nghe được và nói được để anh có thể dùng hai khả năng ấy để chia sẻ với mọi người. Đây là hai ân ban của Chúa. Chúng ta cũng phải dùng ân ban ấy cho đúng; bởi vì trong chúng ta, nhiều người có đôi tai tốt nhưng không biết lắng nghe, nhiều người có cái lưỡi tốt nhưng không biết nói những lời đáng nói. Cho nên chúng ta cần phải được Chúa chữa trị để biết chia sẻ cho nhau.

Trong cuộc sống hằng ngày, nhiều khi chúng ta lại cố tình tạo ra sự câm điếc khi chúng ta không bao giờ biết đến anh em, chỉ biết sống ích kỷ, chú tâm vào bản thân mình, không để ý đến ai. Do đó, chúng ta trở nên cố chấp trước những lời khuyên bảo của người khác để làm những điều xằng bậy mà không biết hổ thẹn.

Chúa cũng ban cho chúng ta cái lưỡi tốt để nói năng; chúng ta cũng phải biết dùng nó để chia sẻ với nhau vì lời nói là phương tiện chia sẻ với nhau hữu hiệu, có thể đem lại niềm vui và hạnh phúc cho người khác. Dùng lưỡi mà chia sẻ với nhau là một điều tốt, nhưng phải chia sẻ với nhau một cách thành thực chứ không dối trá; bởi vì người ta nói: ”Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”, (Tục ngữ) có nghĩa là lưỡi không có xương nên uốn lắt léo thế nào cũng được. Nghĩa bóng của câu này thường được dùng để chỉ người ăn nói trước sau bất nhất, lúc thế này, lúc thế khác.

Ngoài ra, những người ác độc có những lời lẽ rất ngon lành, tốt đẹp nhưng lại hàm ý nghĩa xấu trong đó. Vì thế người ta nói: ”Lưỡi mềm độc quá đuôi ong” (Tục ngữ), có nghĩa là lưỡi mềm là lưỡi không cứng rắn như đá, không sắc nhọn như dao; lưỡi không có gì đáng sợ vì không làm đau đớn thương tổn được người ta. Ấy vậy mà lưỡi độc quá đuôi ong, châm vào thịt đau buốt và sưng vù lên. Lưỡi nói xấu ai thì người ấy mất bạn bè, mất danh giá; lưỡi vu khống ai thì người ấy bị tù tội, mất cơ nghiệp, có thể mất cả tính mạng (Văn Hòe, Tục ngữ lược giải, 1957, tr 152).

Khi Đức Giêsu chữa anh điếc, Ngài khêu gợi đức tin nơi anh. Chắc chắn là anh ta kém đức tin vì Đức Giêsu phải đem anh riêng ra làm những cử chỉ khêu gợi lên trong lòng anh đức tin cần thiết để ban ơn khỏi bệnh cho anh. Khi đức tin đã nhóm lên trong lòng, Ngài mới làm phép lạ cho anh khỏi bệnh. Điểm chúng ta muốn nói là sở dĩ anh kém đức tin vì anh điếc, không nghe được Lời Chúa. Ngày nay nhiều thanh thiếu niên kém đức tin hoặc đã mất đức tin vì anh điếc hay giả điếc, không nghe Lời Chúa.

Tin Mừng hôm nay khuyên chúng ta nên tạo điều kiện thuận lợi cho Chúa Giêsu để Ngài mở miệng lưỡi chúng ta về mặt thiêng liêng, để Ngài đặt ngón tay của Ngài khai mở đôi tai điếc của chúng ta. Nói cụ thể hơn, Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta hãy làm lại những gì chúng ta có thói quen hay làm, tức là bỏ ra ít phút mỗi ngày để cầu nguyện, để Chúa Giêsu thực hiện nơi chúng ta điều Ngài đã làm cho người câm điếc là chữa lành bệnh câm điếc của chúng ta.

Hồi ấy, Giêrônimô (342-420) là một văn hào lỗi lạc về văn chương cổ điển và không biết gì về Thiên Chúa. Ngài say mê đọc các tác phẩm của Cicéron. Một hôm, ngài nghe tiếng Chúa hỏi: “Giêrônimô, con là môn đệ của ai?” Ông thưa: “Con là môn đệ của Chúa.” Chúa đáp: “Không phải, con là môn đệ của Cicéron.” Từ đó, Giêrônimô giác ngộ và quyết chí học hỏi Lời Chúa. Ngài được ơn Epphata. Ngài qua thánh địa vào ẩn tu trong hang đá Belem để phiên dịch Thánh Kinh, để suy niệm Lời Chúa, sống trong khung cảnh Chúa đã sống. Ngài đã nói: ”Ai không hiểu biết Thánh Kinh là không biết Chúa Giêsu.” Bản dịch Vulgata (Phổ thông) của Ngài đã được công đồng Triđentinô (thế kỷ 16) nhìn nhận là phù hợp với đức tin và được coi là bản dịch chính thức của Hội Thánh.

Lạy Chúa, xin chữa lành bệnh câm điếc của chúng con, phần xác hay phần thiêng liêng.

 

4. ĐỨC GIÊSU, ĐẤNG CỨU ĐỘ THẦN LINH

Lm. Phêrô Lê văn Chính

Ơn cứu độ là gì? Thiên Chúa cứu độ như thế nào? Làm sao để đón nhận ơn cứu độ của Thiên Chúa? Người tín hữu nghe nói nhiều về ơn cứu độ và giải thoát, thế nhưng để hiểu, cần lắng nghe những tường thuật của Cựu ước và Tin mừng để chúng ta nắm bắt được ý nghĩa của ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban tặng cho con người.

Trong lịch sử, có thể có những cách hiểu về ơn cứu độ được xem là ảo tưởng và huyền hoặc, như quan niệm có chiều hướng duy linh, cứu độ là được trở về với bản chất thần linh của mình nhờ vào việc tinh thần con người thoát ra khỏi vật chất và thân xác. Nhiều người cho rằng tinh thần con người vốn có bản chất thần linh, bị giam cầm trong thân xác, nên nhờ một sự giác ngộ tinh thần, con người thoát ra khỏi thân xác để trở về với bản chất thần linh vốn có của mình. Hoặc một quan niệm duy vật hơn, cho rằng cứu độ chính là tạo được một cuộc sống ấm no hạnh phúc ở trần gian. Con người, nhờ cố gắng của trí tuệ tìm tòi và phát minh khoa học của mình, chiến thắng mọi trở ngại trong thiên nhiên như bệnh tật, và tạo ra nhiều của cải để con người sống hạnh phúc ở trần gian.

Bản văn sách tiên tri Isaia cho thấy quan niệm ơn cứu độ là việc Thiên Chúa hành động và đến cứu giúp con người. Đó là lúc mà Thiên Chúa quyết định hành động một cách quyết liệt để chữa lành thân phận bệnh tật của con người: “Bấy giờ mắt người mù sẽ sáng, tai người điếc sẽ mở ra. Người què sẽ nhảy nhót như nai và người câm sẽ nói được, vì nước sẽ chảy nơi hoang địa và suối nước sẽ chảy nơi đồng vắng”. Và hành động cứu độ của Thiên Chúa là giải thoát họ khỏi những bệnh tật đang giam cầm và ràng buộc con người. Đây là những dấu chỉ giải thoát của thời kỳ Đấng cứu độ, là lúc mà chính Thiên Chúa đến để cứu giúp con người. Bởi vì bệnh tật như đui mù, què quặt, câm điếc làm cho thân phận con người trở nên bi đát và bất hạnh, giới hạn những khả năng của con người.

Chữa lành những bệnh tật thể lý của thân phận con người là dấu chỉ của ơn cứu độ do Thiên Chúa ban tặng, giải thoát con người khỏi những giới hạn này, để làm cho con người được hạnh phúc thực sự, được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa. Và câu chuyện Tin mừng tường thuật cụ thể việc Chúa Giêsu chữa lành một người bị câm điếc. Người đưa anh ta riêng ra, đặt ngón tay vào tai anh, bôi nước miếng vào lưỡi anh, ngước mắt lên trời thở dài và nói “êphata” tức là hãy mở ra. Cách làm của Chúa Giêsu có phần nào giống với thực hành y khoa thời bấy giờ tức là có những tiếp xúc thể lý với bệnh nhân và dùng nước miếng, được cho là nguồn sự sống, để xức cho bệnh nhân. Ngoài ra việc người cầu nguyện, thở dài, nói êphata đều là những chỉ dẫn quí báu về sử tính của hành động chữa lành cũng là hành động cứu độ của Chúa Giêsu.

Ơn cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện một cách cụ thể bằng việc chính Con Thiên Chúa nhập thể làm người, ở với con người, đến tiếp xúc với mỗi người chúng ta để giải thoát con người khỏi những ràng buộc của bệnh tật và sự chết. Ơn cứu độ là sự gặp gỡ thực sự với Đấng cứu thế, đến để giải thoát con người khỏi những ràng buộc của tội lỗi, mà bệnh tật là dấu hiệu của nó. Con người cần phải gặp gỡ thực sự với Đức Giêsu Con Thiên Chúa để đón nhận quyền năng cứu độ của người. Đấng cứu thế biểu lộ quyền năng cứu độ của người, nhưng người không muốn người ta tỏ dấu biết ơn bằng cách loan truyền phép lạ trước thời hạn làm cho những người khác có thể hiểu lầm về tư cách Đấng cứu thế. Người sẽ mạc khải tư cách Đấng cứu thế của mình cách trọn vẹn hơn nhất là qua cuộc thương khó và phục sinh của người, lúc bấy giờ người không còn sợ hiểu lầm, và mọi người có thể công bố rõ người là Đấng cứu thế chịu đóng đinh và chịu chết, và đã Phục sinh vinh quang.

Phép lạ chữa lành cho người bị bệnh câm điếc chứng tỏ quyền năng thần linh của Chúa Giêsu, lòng thương xót của người đứng trước thân phận bệnh hoạn tật nguyền của con người. Đức Giêsu đến để chăm sóc và chữa lành cho mỗi người. Và bài tin mừng tường thuật rằng mọi người đều đầy lòng thán phục mà nói rằng người làm được mọi sự tốt đẹp, người làm cho kẻ điếc nghe được và người câm nói được. Và điều cần được công bố không chỉ là phép lạ, nhưng là chính việc Thiên Chúa hiện diện và cứu độ con người.

Đứng trước hành động mạnh mẽ này của Chúa Giêsu, không ai được phép nhắm mắt làm ngơ, mà phải cố gắng hết sức mình để hiểu biết và tuyên xưng Đấng Cứu Thế, người đang ban ơn cứu độ là sự giải thoát cho con người khỏi những ràng buộc của bệnh tật và sự chết. Giữa Chúa Giêsu và người bệnh câm điếc được chữa lành có một sự gặp gỡ thực sự và bệnh nhân đã được Chúa Giêsu đụng chạm tới, người chăm sóc cho anh, chữa lành anh bằng sức mạnh thần linh phát xuất ra từ chính người: Người đưa riêng anh ta ra một nơi, người đặt tay vào tai anh, nhổ nước miếng vào lưỡi anh, cầu nguyện và nói êphata. Những tiếp xúc này thực sự tác động dấu ấn lên con người của bệnh nhân cách sâu xa.

Quả thật, việc gặp gỡ với Đấng cứu thế đã thay đổi con người của anh cách trọn vẹn, làm cho anh được giải thoát và tham dự trọn vẹn vào sự sống. Dân chúng đều nhìn nhận quả thật Đức Giêsu đã làm mọi sự tốt đẹp, người làm cho kẻ điếc nghe được và người câm nói được, tức là Đức Giêsu đã hoàn tất những lời tiên tri của Isaia. Những phép lạ Đức Giêsu thực hiện không chỉ dừng lại ở việc người là Đấng làm phép lạ mà còn hướng đến ý nghĩa trọn vẹn hơn Người là Đấng cứu độ, đến để giải thoát con người khỏi thân phận tật nguyền. Những phép lạ người làm là dấu chỉ ơn cứu độ của Thiên Chúa ban tặng, đó chính là đời sống thần linh ban tặng cho con người để thay đổi thân phận con người, đưa con người đến chỗ hiệp thông sự sống thần linh  của Thiên Chúa.

Vì thế, chỉ có Thiên Chúa là Đấng ban ơn cứu độ, và ơn cứu độ không là gì khác hơn là được hiệp thông vào sự sống của Thiên Chúa, nhờ chính người con một Thiên Chúa đến tìm kiếm và lôi kéo con người ra khỏi thân phận thấp hèn của mình. Và muốn gặp gỡ ơn cứu độ, con người cần đến với Đức Giêsu là người con một Thiên Chúa, để người chữa những yếu đuối bệnh tật của chúng ta, và ban tặng sức mạnh thần linh từ chính người.

 

5. SUY NIỆM CHÚA NHẬT 23 TN_B.

Lm Giuse Đinh tất Quý

“Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả:

 ông làm cho kẻ điếc nghe được,

và kẻ câm nói được.”(Mc 7,38)

Tin Mừng thánh Marcô hôm nay vừa tường thuật lại cho chúng ta việc Chúa Giêsu chữa một người vừa câm vừa điếc.

1. Như chúng ta thấy: người câm là người không nói được, còn người  điếc là người  không nghe được.

Nghe và nói là hai cánh cửa.

Nói là cánh cửa mở tâm hồn mình ra để thông giao với thế giới bên ngoài. Có gì tích chứa trong lòng muốn người khác hiểu thì phải nói ra.

Nghe là cánh cửa mở ra để đón nhận thông tin từ thế giới bên ngoài vào. Phải nghe mới hiểu được người khác. Không nghe không nói thì chẳng khác gì đóng kín cánh cửa cảm thông, mình không hiểu người mà người cũng không hiểu mình. Sống bên nhau mà không hiểu nhau thì thật đáng buồn và đáng sợ.

Nếu câm và điếc thể lý đã đáng buồn và đáng sợ, thì câm và điếc tâm lý còn đáng buồn và đáng sợ gấp bội.

Có nhiều thứ câm.

Có thứ câm do khác biệt ngôn ngiữ và văn hoá. Ta thông hiểu người mà cũng chẳng thể làm cho người hiểu ta.

Có thứ câm do ích kỷ. Ta chỉ nói về những quan tâm, những nhu cầu, những ước vọng của ta, mà chẳng xét đến những quan tâm, những nhu cầu, những ước vọng của anh em. Nên lời ta nói chẳng lọt vào tai anh em. Lời ta nói trở nên ngượng nhịu, anh em nghe mà không hiểu.

Có thứ câm do sợ sệtVì sợ sệt, ta không dám nói lên sự thật. Những nỗi sợ mất quyền lợi, sợ mất danh dự, sợ mất lòng người khiến ta trở thành câm nín, câm nhịu.

Có thứ câm do lười biếng. Vì lười biếng ta không nói được những lời tốt đẹp khích lệ anh em. Vì lười biếng ta không nói được những lời an ủi người đang buồn sầu. Vì lười biếng ta không nói được những lời chia vui với người anh em gặp may mắn. Nhất là vì lười biếng mà ta không nói lên được những lời ca tụng Thiên chúa.

Những đam mê, những dục vọng những toan tính, những ích kỷ, những lười biếng trở thành những sợi dây trói buộc lưỡi ta, làm ta trở thành câm nín, câm chịu.

Tương tự như thế

Có nhiều bức tường ngăn chặn ta làm tai ta bị điếc.

Có thứ điếc vì khác biệt ngôn ngiữ và văn hoá. Nghe mà không hiểu. Hoặc nghe tưởng là hiểu hoá ra lại hiểu sai. Trường hợp này còn tệ hại hơn là không nghe thấy gì.

Có thứ điếc vì định kiếnĐã có sẵn định kiến với ai, ta không muốn nghe người ấy nói nữa. Người ấy có nói hay đến đâu ta cũng cho là dở. Người ấy có nói tốt đến đâu, ta cũng cho là xấu. Những ý kiến của người ấy không thể lọt vào tai ta. Nếu có vào thì chi vào những phần xấu.

Có thứ điếc vì bịt tai không muốn nghe. Đây là trường hợp của người tự làm cho mình trở thành điếc. Mất tin tưởng vào anh em. Tuyệt vọng vì cuộc sống. Tự đóng kín trong vỏ ốc của bản thân. Đoạn tuyệt với mọi người.

Sau cùng có thứ điếc thiêng liêng không nghe được Lời Chúa. Không nghe được Lời Chúa vì thiếu học hỏi. Nhưng nhất là không nghe được Lời Chúa vì cứng lòng. Vì để nghe Lời Chúa, mở tai chưa đủ, cần phải mở lòng nữa. Bao lâu tâm hồn còn đóng kín, không nhậy cảm trước những lời mời gọi ăn năn sám hối, không tỉnh thức tiếp thu những lời hướng dẫn về đường lành, thì tai người ta sẽ chẳng nghe được Lời hằng sống. Bao lâu tâm hồn còn đuổi theo dục vọng còn toan tính những điều gian dối, bấy lâu người ta vẫn còn điếc đặc trước những  Lời của Thiên Chúa.

2. Hôm nay, Đức Giêsu cũng đến nói với ta: “Ephata”.

Hãy mở ra miệng lưõi để nói.

Hãy mở tai ra để nghe.

Trước hết hãy mở miệng lưỡi ra để nói.

Dale Camégie thuật lại rằng: Một bà kia đã dọn cho nam giới trong gia đình bà: chồng và các con trai của bà, một bàn ăn rất lịch sự, đầy hoa, nhưng có một nắm cỏ khô trong mỗi dĩa.

– Sao thế, hôm nay dùng cỏ khô à?

– Ồ, không đâu! Tôi sẽ đưa thức ăn lên ngay lập tức. Nhưng hãy nghe tôi nói một điều: Từ bao nhiêu năm trời, tôi đã nấu nướng cho các “người “, tôi đã cố gắng thay đổi món ăn, bữa thì món cơm, bữa thì món hầm, bữa khác thì món quay hoặc món“ragu”. Không bao giờ các “người” nói: “Ngon quá! Bà chiều chúng tôi quá”. Hãy nói lên một tiếng chứ, tôi đâu phải là đá! Người ta không thể làm việc khi không thấy một dấu cám ơn, một lời khuyên khích hay khen thưởng.

Hãy biết mở miệng lưỡi ra để đi đến với anh em và đi đến với Chúa. Hãy cắt đứt sợi dây ích kỷ để ta biết quan tâm tới nhu cầu của anh em. Hãy cắt đứt sợi dây sợ sệt để ta biết mạnh dạn nói những lời sự thật. Hãy cắt đứt sợi dây lười biếng để ta biết nói lên những lời tốt đẹp những lời ca ngợi tình thương của Chúa.

Thứ đến hãy mở tai ra để biết lắng nghe.

Một nhóm sinh viên được yêu cầu lập danh sách bảy kỳ quan của thế giới hiện nay. Mặc dù có một số bất đồng, nhưng đa số đều bình chọn theo danh sách sau:

  1. Kim tự tháp Ai cập
  2. Đền Taj Mahal.
  3. Đại vực Grand Canyon.
  4. Kênh đào Panama.
  5. Tòa cao ốc Empire State.
  6. Đền thờ thánh Phêrô ở Roma.
  7. Vạn Lý Trường Thành.

Khi tập trung phiếu bình chọn, bà giáo sư để ý thấy có một sinh viên chỉ ngồi im lặng, không nộp lại phiếu của mình. Thấy thế, bà liền đến hỏi xem phiếu của cô có vấn đề gì không. Cô gái trả lời:

– Vâng, thưa giáo sư. Có chút ít ạ ! Có lẽ em không cần nộp vì phiếu của em quá khác so với các bạn.

Vị giáo sư nói:

– Vậy thì em hãy cho cô biết sự lựa chọn của em để tôi và các bạn xem có thể giúp gì không?

Cô sinh viên phân vân giây lát, rồi bắt đầu nói đến bảy kỳ quan thế giới theo nhận định riêng của cô là :

  1. Vuốt ve
  2. Nếm mùi vị
  3. Ngắm nhìn.
  4. Lắng nghe
  5. Cảm nhận.
  6. Cười vui
  7. Tình yêu

Cả lớp học hoàn toàn im lặng. Bởi đó là những điều ta thường quên lãng vì chúng quá đơn giản và quá đỗi bình thường, nhưng thật sự ra đó mới là những kỳ quan tuyệt vời. Chính chúng mới làm nên hạnh phúc cho cuộc đời của ta chứ không phải là những kỳ quan vĩ đại trên cõi đời này. (Mao Trí Hùng sưu tập)

Vâng! Hãy mở ra. Hãy mở tai ra để lắng nghe lời anh em. Hãy mở tai ra để lắng nghe lời Chúa. Hãy phá đi bức tường định kiến. Hãy phá đi bức tường ích kỷ. Hãy phá đi bức tường tâm hồn cứng cỏi để mở rộng tâm hồn đón nhận anh em và đón nhận Lời Chúa.

Lạy Chúa, xin hãy chữa cho con bệnh câm và bệnh điếc trong tâm hồn con để con được sống phong phú và dồi dào hơn như lòng Chúa ước mong. Amen.

 

6. BỆNH TẬT

Trầm Thiên Thu

Việt ngữ thật thú vị: Bệnh Tật. Bệnh thì có Tật, và có thể thành Tật – đôi khi cái tật “mệt” hơn cái bệnh. Đau đâu khốn đấy. Khổ lắm! Thế nên tiền nhân xác định: “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”. Sống vui vẻ là lối sống lành mạnh, ít phải sử dụng thuốc men hoặc phải “hỏi thăm” thầy thuốc. Điều đó cũng có nghĩa là những người khó tính, nóng nảy, hay hờn giận, thường là những người dễ bị bệnh. Đúng vậy, “Ăn được, ngủ được là tiên – Không ăn, không ngủ, mất tiền, đâm lo”. Sức khỏe tinh thần và sức khỏe thể lý luôn có liên quan lẫn nhau. Có thể nói đây là một chân lý bất biến: “To vòng bụng, ngắn vòng đời”. Người ta bảo rằng “phát tướng thì phát tài”, thật ra lại là “phát tướng thì… phát tang”.

Thiên Chúa đã tạo dựng các cơ phận rất hợp lý (2 mắt, 2 tai, 2 tay, 2 chân,… 1 đầu, 1 miệng, 1 tim), chắc chắn không phần nào thiếu hoặc thừa, ngay cả “ruột thừa” (appendix) cũng vẫn không thừa, bởi vì nó có một số tác dụng miễn dịch quan trọng và một số tác dụng khác – phát triển cả bào thai và người lớn.

Bất cứ cơ phận nào khác thường thì sẽ khổ lắm. Chỉ là nhức răng thôi mà nhiều người đã phải khóc như cha mẹ chết. “Cái răng, cái tóc là gốc con người”, đúng vậy! Con mắt là cửa sổ tâm hồn, nó chỉ mờ thôi đã khổ rồi, huống chi nó cứ “khép chặt” thì… ôi thôi, khổ biết chừng nào! Thế nên phải tìm cách “mở” nó ra. Y học và khoa học tìm đủ cách mà nhiều người vẫn chưa thỏa ước nguyện là được nhìn đời. Mù lòa mắt thể lý là khổ, mù lòa mắt tâm linh còn khổ hơn. Thế nên cần phải cầu xin Thiên Chúa để Ngài phán một lời chữa lành: “Effatha! Ép-pha-tha! Εφφαθα! Hãy mở ra!”.

Thế nhưng “mở ra” cũng có nhiều mức độ, không chỉ đơn giản là “không đóng, không khép”. Mở thế nào: Mở toang hay mở hé? Động từ “mở ra” thường được nghĩ ngay tới mở một vật gì đó – theo nghĩa đen. Nhưng “mở ra” cũng có nghĩa bóng, tức là “mở lòng ra”, đó mới là ý nghĩa quan trọng của đời sống con người, nhất là đời sống Kitô hữu, nghĩa là phải sống cởi mở và yêu thương. Cả nghĩa đen và nghĩa bóng đều có những thứ “dễ mở” và “khó mở”, đôi khi có thể “không mở được” hoặc “không chịu mở”. Vấn đề là chỗ đó!

Cũng cần can đảm và quyết tâm khi “mở ra”. Thế nên ngày xưa, ngôn sứ Isaia khuyên những kẻ nhát gan: “Can đảm lên, đừng sợ! Thiên Chúa của anh em đây rồi; sắp tới ngày báo phục, ngày Thiên Chúa thưởng công, phạt tội. Chính Người sẽ đến cứu anh em” (Is 35:4). Đó là Giờ Cứu Độ, Ngày Công Lý, (cũng có thể) là ngày Đức Kitô giáng lâm, vì thời đại chúng ta đang sống là Thời Cánh Chung. Thời giờ cứu độ là lúc “mắt người mù mở ra, tai người điếc nghe được, kẻ què sẽ nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người câm sẽ reo hò” (Is 35:5-6a). Lúc đó sẽ “có nước vọt lên trong sa mạc, khe suối tuôn ra giữa vùng đất hoang vu; miền nóng bỏng biến thành ao hồ, đất khô cằn có mạch nước trào ra; trong hang chó rừng ở sậy, cói sẽ mọc lên” (Is 35:6b-7). Mọi sự trở nên mới, hoàn toàn thay đổi, và thật là hạnh phúc cho những ai vẫn giữ vững niềm tin vào Thiên Chúa: “Kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát” (Mt 10:22; Mc 13:13; Lc 21:19).

Tận thế ư? Xa hay gần? Chắc chắn “ngày tận thế” ai cũng chứng kiến là lúc mình chết, lúc chúng ta trút hơi thở cuối cùng để giã biệt thế gian. Đó là “giờ cánh chung” của mỗi cuộc đời chúng ta. Còn ngày tận cùng của thế gian này chẳng ai biết lúc nào, ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi (Mt 24:36; Mc 13:32).

Thiên Chúa thấu suốt mọi sự, kể cả những điều chúng ta chưa nghĩ tới, Ngài chí minh và chí thiện: “Người là Đấng giữ lòng trung tín mãi muôn đời, xử công minh cho người bị áp bức, ban lương thực cho kẻ đói ăn” (Tv 146:7a). Không chỉ vậy, Ngài còn “giải phóng những ai tù tội, mở mắt cho kẻ mù loà; cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên; và yêu chuộng những người công chính” (Tv 146:7b-8). Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót nhưng cũng nhất mực công bình, Ngài “phù trợ những khách ngoại kiều, nâng đỡ cô nhi quả phụ, nhưng phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân” (Tv 146:9). Và chỉ có Ngài mới là người duy nhất nắm giữ vương quyền muôn muôn thuở và hiển trị đời đời. Ngài là Thiên Chúa của hôm qua, hôm nay và mãi mãi (Dt 13:8).

Ngài toàn năng nên Ngài làm được tất cả những gì mà loài người “bó tay”. Ngài “mở” được mọi thứ, dù điều đó phàm nhân không thể làm gì được. Thậm chí những tấm lòng chai đá nhất, những “cửa lòng” khó mở nhất hoặc hầu như “không thể mở ra”, thế mà Ngài vẫn khả dĩ thâm nhập và “mở” được: Phêrô, Phaolô, Maria Mađalêna (bị 7 quỷ kiềm chế), Augustinô,… Vì thế, chúng ta càng phải cần nhớ đến Ngài, kêu van Ngài xót thương và gìn giữ chúng ta từng giây phút, qua từng hơi thở, bởi vì không có Ngài thì chúng ta chẳng làm gì được (Ga 15:5).

Thật chí lý với lời khuyên của Thánh Giacôbê: “Anh em đã tin vào Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, là Chúa vinh quang, thì đừng đối xử thiên tư” (Gc 2:1). Rất rõ ràng, rất rạch ròi. Không thiên tư, không thiên vị là thế nào? Đó là không phân biệt đối xử: Không coi trọng người giàu mà khinh chê người nghèo, không qụy lụy người chức quyền mà áp bức người cô thân yếu thế, không nịnh người tâng bốc mà ghét người trực tính,… Đó là cách sống công bình, là cách thể hiện công lý, và đó mới là cách sống mà Thiên Chúa mong muốn nơi mỗi chúng ta.

Và không hề úp mở hoặc bóng gió, Thánh Giacôbê nói thẳng luôn: “Giả như có một người bước vào nơi anh em hội họp, tay đeo nhẫn vàng, áo quần lộng lẫy, đồng thời có một người nghèo khó, ăn mặc tồi tàn, cũng bước vào, mà anh em kính cẩn nhìn người ăn mặc lộng lẫy và nói: ‘Xin mời ông ngồi vào chỗ danh dự này’, còn với người nghèo, anh em lại nói: ‘Đứng đó!’ hoặc: ‘Ngồi dưới bệ chân tôi đây!’, thì anh em đã chẳng tỏ ra kỳ thị và trở thành những thẩm phán đầy tà tâm đó sao?” (Gc 2:2-4). Tình trạng này rất thường thấy, giống như một định dạng phân biệt hoặc kỳ thị mặc nhiên vậy.

Thật thế chứ chẳng oan ức chi, có thể chúng ta không hề nói ra bằng lời nhưng động thái, ánh mắt và cử chỉ của chúng ta lại “tố cáo” chúng ta “kỳ thị” và “xét đoán” người khác, thế mà chúng ta vẫn tự nhận là đang sống đức công bình. Cái loại “tưởng” như vậy rất nguy hiểm, nếu không chấn chỉnh thì không yên thân với Chúa đâu đấy!

Cuộc sống luôn có những vấn đề nhỏ mà không nhỏ, đơn giản mà khó xử lý. Có bao giờ chúng ta động lòng trắc ẩn với một người nghèo đứng bơ vơ ở một góc đường? Có bao giờ chúng ta cầu nguyện cho những người bị tai nạn khi nghe người khác nói, khi thấy trên ti-vi hoặc trên internet? Có bao giờ chúng ta cầu nguyện cho một người qua đời khi chúng ta đi trên đường và thấy đám tang, dù người đó thuộc tôn giáo khác? Có bao giờ chúng ta nghĩ về món nợ mình phải trả cho những người nghèo khó và đau khổ hơn mình? Đặc biệt là trong hoàn cảnh đất nước hiện nay, chúng ta có cầu nguyện cho quê hương Việt Nam? 

Thánh Phaolô vừa căn dặn vừa truyền lệnh: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người thì đã chu toàn Lề Luật” (Rm 13:8). Đức ái quá lớn lao. Và món nợ này chúng ta phải trả cho đến hơi thở cuối cùng. Ai thanh toán xong đồng-xu-yêu-thương-cuối-cùng đó thì mới được vào Nước Trời. Chúa Giêsu nói thật chứ chẳng đùa đâu, vì Thiên Chúa rất mực công bình và chính trực. Chắc chắn là phải “hai năm rõ mười”. Vấn đề thực sự đáng quan ngại!

Và rồi Thánh Giacôbê đặt vấn đề: “Nào Thiên Chúa đã chẳng chọn những kẻ nghèo khó trước mặt người đời để họ trở nên người giàu đức tin và thừa hưởng vương quốc Người đã hứa cho những ai yêu mến Người hay sao?” (Gc 2:5). Chắc chắn như vậy! Chàng trai Phanxicô ở thành Assisi đã sống đúng nghĩa đen của chữ nghèo theo Tin Mừng nên được mệnh danh là “Phanxicô nghèo khó”, thế nên mới được làm “công dân Nước Trời”.

Thế nhưng trong thực tế của cuộc sống đời thường, ai nghèo đều bị khinh và bị người khác “không thèm ngó”, thậm chí còn bị mỉa mai là “bộ mặt hãm tài”. Trong một nhóm người, một hội đoàn hoặc một giáo xứ, chúng ta thấy rõ ai có “máu mặt” đều được bề trên “lưu ý” người ta “chăm chút”, được đề cao, được “yêu quý”, được “lưu ý”, được “săn đón”, được mời chào, được “hỏi thăm”, được tiếp đón nồng hậu,… Xin lễ hoặc xin khấn cũng có loại “giá” riêng. Nếu theo kiểu cầu nguyện như thế thì người giàu được cầu nguyện nhiều, và dễ lên thiên đàng, còn người nghèo thì đừng hòng nhìn thấy cổng thiên đàng, vì không có tiền thì chẳng ai cầu nguyện cho, do đó mà “đi chỗ khác chơi”.

Việc “yêu người như chính mình” hoặc “thương người nghèo” chỉ là… nói cho vui thôi! Người có quyền và có tiền thì trở thành người có “thế” (vị trí và giá trị). Vì vậy, người Việt thường nói: “Miệng nhà giàu có gang, có thép”, họ có nói sai hoặc làm sai cũng thành đúng “tất tần tật”, hoặc như kiểu nói khác: “Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột”. Sự thật minh nhiên: Có tiền được gọi là “ông”, không có tiền bị gọi là “thằng”. Và người ta thường thở dài não nuột: “Đời là thế!”. Thế thì buồn thật!

Theo lời kể của Thánh sử Mác-cô, hôm đó Đức Giêsu bỏ vùng Tia, đi qua ngả Xiđôn, đến biển hồ Galilê vào miền Thập Tỉnh. Người ta đem một người vừa điếc vừa ngọng đến với Ngài và xin Ngài đặt tay trên anh. Ngài kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh. Chúa Giêsu đúng là “siêu bác sĩ”, là “thần y”, bởi vì Ngài chữa bệnh mà không hề dùng thuốc men gì – không thuốc Tây, không thuốc Nam hoặc thuốc Bắc, mà chữa bệnh bằng… nước miếng. Không chỉ lạ mà hay quá là hay, đặc biệt là có hiệu quả hơn bất cứ loại thuốc nào khác trên đời. Ôi chao, đúng là trên cả tuyệt vời!

Thật vậy, sau khi “nhổ nước miếng và bôi vào lưỡi bệnh nhân”, Chúa Giêsu ngước mắt lên trời, rên một tiếng và nói: “Ép-pha-tha, hãy mở ra!” (Mc 7:34). Thánh sử Mác-cô cho chúng ta biết một “chi tiết lạ” là Chúa Giêsu RÊN một tiếng. Và rồi lập tức tai anh ta mở ra, lưỡi như hết bị buộc lại. Chỉ cần bôi nước miếng mà bệnh nhân hết điếc và hết ngọng, anh ta nói được rõ ràng. Sư phụ Giêsu tài quá, độc chiêu quá, tuyệt vời quá! Phàm ngôn không có từ ngữ để mô tả một cách trọn vẹn nhất.

Chắc chắn không ai có thể làm được như Ngài, thế nhưng Chúa Giêsu không khoe khoang, không khoác lác, không “nổ” chút nào, mà Ngài bắt người ta không được kể chuyện đó với ai. Ngài càng cấm thì họ càng đồn ra. Tiếng lành đồn xa là vậy, và đó là chuyện tất yếu thôi. Ôi, điều kỳ diệu thế làm sao im lặng được, làm sao mà cấm nổi? Không bàn tán xôn xao sao được vì ai cũng hết sức kinh ngạc và khâm phục: “Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả: ông làm cho kẻ điếc nghe được, và kẻ câm nói được” (Mc 7:37). Có ai thấy “siêu bác sĩ” mà không bàn tán chứ? Chắc chắn không thể im lặng được! Và thế là “siêu bác sĩ” Giêsu nổi như cồn, trở thành “siêu sao” ngay lập tức. Tuyệt vời quá chừng! Giả sử chúng ta là các tông đồ thấy Sư phụ như vậy thì chúng ta “lên nước” và “nổ banh trời” chứ chẳng chơi. Thế nhưng không thấy Kinh Thánh nói gì về các môn đệ, chắc là họ đã thấm thía bài học khiêm nhường mà Thầy Giêsu đã dạy.

Thông thường thì chứng câm đi đôi với chứng điếc, gọi là câm điếc – có lẽ liên quan dây âm thanh, việc phát âm và lắng nghe không thể tách rời chăng? Đó là chứng câm điếc thể lý, còn về tâm linh, chúng ta cũng có những lúc bị “bệnh câm điếc”. Triệu chứng thế nào? CÂM là không muốn nói về Chúa, không nói lời tốt, thấy sai mà không dám nói; còn ĐIẾC là không chịu nghe Lời Chúa, không nghe lời khuyên, cố chấp. Chứng câm điếc tinh thần thật là đáng sợ lắm. Càng đáng sợ hơn khi không nhận biết mình bị câm điếc hoặc không chịu “mở ra”. Cần lắm sự tỉnh táo, sáng suốt và khôn ngoan, đặc biệt là ơn Chúa!

Lạy Thiên Chúa toàn năng, mọi cửa đời của chúng con vẫn khép chặt và khóa bằng ổ khóa ích kỷ, xin thương mở cửa đời đầy “gỉ sét tội lỗi” của chúng con để chúng con mở đời và thoát khỏi chứng câm điếc, xin chữa lành bệnh đời và tật đời của chúng con, xin giúp chúng con tuyên xưng Thánh Danh Ngài và kiên tâm chờ đợi Con Chúa giáng lâm. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ của nhân loại. Amen.

 

7. NGHE, KHẢ NĂNG LẮNG NGHE, VÀ NHÌN NGẮM

Lm.Giuse Đỗ Đức Tri

Nhìn vào cuộc sống, con người và vũ trụ, người ta đã có thể nhận ra sự khôn ngoan kỳ diệu của Thiên Chúa. Nơi con người, Thiên Chúa dựng nên tất cả đều cân đối, đối xứng. Thiên Chúa dựng nên hai con mắt, hai lỗ tai, nhưng lại chỉ có một cái miệng. Có người nói rằng: “nếu Thiên Chúa dựng nên hai cái miệng chắc là cuộc sống chung sẽ nhức đầu lắm vì ai cũng nói gấp đôi; nếu có hai cái miệng thì tay làm không đủ để nuôi cái miệng, nó ăn sẽ sập nhà, lở núi”. Phải chăng khi dựng nên như thế, Thiên Chúa muốn mỗi người phải nhìn và nghe gấp hai lần so với cái miệng. Có lẽ đúng như vậy, con người cần có khả năng nghe nhiều hơn nói. Tuy nhiên trong thực tế, có nhiều người dù tai không bị điếc, nhưng họ đã mất khả năng nghe vì họ không muốn lắng nghe.

Trong tiếng Anh có hai từ khác nhau để chỉ về việc nghe đó là hearing và listening

Hearing là nghe: ta vẫn nghe thấy âm thanh, tiếng động xung quanh, nhưng những âm thanh ấy không đi vào não, không chạm đến tim. Ví dụ: ta có thể nghe tiếng xe đang chạy ngoài đường, song chúng ta không quan tâm. Trái lại, listening là lắng nghe tức là: nghe cách chăm chú, nghe có suy nghĩ và để cho lời chạm đến tâm trí và trái tim của mình. (hearing is through ears, but listening is through the mind) 

Thiên Chúa đã thực hiện biết bao việc kỳ diệu để bảo vệ dân của Ngài. Ngài đã dùng cánh tay hùng mạnh và nhiều phép lạ để đưa dân Chúa ra khỏi đất Ai Cập. Phép lạ cho dân vượt qua Biển Đỏ khô chân là một phép lạ vô cùng lớn lao, người Do Thái vẫn còn nhắc lại cho con cháu mọi thế hệ. Tại núi Sinai, Thiên Chúa đã hiện ra ký kết giao ước với Israel qua Môsê, Ngài làm cho ngọn núi Sinai rung chuyển, khiến cho dân chúng khiếp sợ. Dân cam kết tuân theo giới răn và huấn lệnh của Thiên Chúa. Tuy nhiên, với thời gian, người Do thái đã đánh mất khả năng nghe – nhìn này. Họ nhìn mà không thấy, nghe mà không thấm. Nói đúng hơn, họ cố tình không muốn thấy và không muốn nghe những lời của Thiên Chúa.

Tiên tri Isaia trong đoạn sách hôm nay, khơi lên cho dân Do thái một niềm hy vọng trong lúc họ đang bị lưu đày bên Babylon. Israel đã chóng quên các phép lạ Chúa đã thực hiện trong quá khứ, đã bỏ qua những lời hứa và giới răn lề luật của Thiên Chúa. Họ buông mình theo lối sống dễ dãi, buông thả của người Babylon. Vị tiên tri loan báo sẽ đến ngày Thiên Chúa mở mắt cho người mù, mở tai cho người điếc. Thiên Chúa sẽ cho người què đi được và mở miệng cho người câm có thể reo hò ca tụng Thiên Chúa. Đó là thời Thiên Chúa sẽ đem lại niềm vui ơn cứu độ cho những ai mở tai để lắng nghe Lời của Chúa và mở mắt mở lòng cho những ai tin nhận Chúa.

Tin Mừng cho thấy, Đức Giêsu là Đấng đã thực hiện lời tiên báo của Isaia năm xưa. Thánh Marcô thuật lại việc người ta đem đến cho Chúa Giêsu một người vừa điếc vừa ngọng và xin Ngài chữa anh. Thánh Marcô muốn nhấn mạnh cho chúng ta một số chi tiết trong phép lạ này. Trước hết là đám đông dân chúng: Những người dân ngoại này chắc chắn đã nghe nói về Đức Giêsu, nay họ có dịp tận tai nghe, tận mắt được nhìn thấy Ngài, họ đã mở lòng để tin Ngài. Con mắt, lỗ tai và tâm hồn của họ đã mở. Vì thế họ đem người điếc và ngọng này đến để xin Chúa đặt tay chữa lành cho anh.

Chúa Giêsu đã thực hiện những việc hết sức đặc biệt trên người bệnh này. Trước hết, Ngài kéo riêng anh ra khỏi đám đông. Việc làm này cũng có nghĩa là Chúa đã muốn kéo riêng anh về phía Chúa để anh được ở gần Chúa hơn và để anh được thuộc về Chúa chứ không thuộc về đám đông dân ngoại nữa. Ngài đặt tay vào tai anh và bôi nước miếng vào lưỡi anh: Việc làm này có vẻ giống các thầy lang thời đó, nhưng sâu xa hơn, việc làm này cho thấy Chúa Giêsu đã thực sự đụng chạm không chỉ đến tai, đến miệng của anh, mà Chúa còn đụng chạm đến con người, trái tim và tâm hồn của anh nữa.

Từ đây, Chúa không chỉ chữa anh khỏi câm, ngọng, mà Chúa mở tai, mở mắt tâm hồn để anh có thể nhận ra Ngài là Thiên Chúa quyền năng và có thể lắng nghe Lời của Chúa. Được Chúa chạm đến tâm hồn và cuộc đời, chắc chắn sẽ có một sự biến đổi lớn lao. Không dừng lại ở việc làm, Chúa Giêsu còn ngước mắt lên trời để cầu nguyện cho anh và đồng thời Ngài thực hiện một phép lạ lớn trong cuộc đời của anh đó là mở toang tất cả những gì còn bị đóng kín, chôn chặt trong cuộc đời anh qua một mệnh lệnh: “Epphata – Hãy mở ra”. Thánh Marcô diễn tả: “lập tức, tai anh ta mở ra, lưỡi hết bị trói buộc. Anh ta nói được rõ ràng”.

Qua phép lạ này, Chúa Giêsu không chỉ mở tai, mở miệng cho người bị câm điếc, nhưng Ngài còn mở lòng, mở trí cho đám đông dân chúng. Tin Mừng ghi lại: việc này xảy ra tại miền Tirô và Siđon tức là vùng của những dân ngoại. Khi Đức Giêsu chữa lành cho người câm điếc, Ngài căn dặn anh và dân chúng chung quanh đừng nói với ai. Nhưng càng cấm thì dân chúng càng loan truyền rộng rãi, khiến cho mọi người đều ngạc nhiên thán phục mà rằng: Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp. Ông làm cho kẻ điếc nghe được và kẻ câm nói được. Trước các việc tốt lành Đức Giêsu đã thực hiện, những người dân ngoại này đã được mở mắt để tin Ngài là một Vị Ngôn Sứ. Họ đã mở tai đón nhận lời giáo huấn của Chúa Giêsu và cũng là Lời Quyền Năng có thể biến đổi hoàn toàn con người, xua trừ mọi bệnh tật, vốn được coi như hậu quả của ma quỷ và tội lỗi. Họ mở miệng để ca ngợi Chúa Giêsu: “Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp”.

Thưa quý OBACE, có thể chúng ta cũng giống như người Do Thái, dù không bị điếc, mù hay câm, nhưng chúng ta đã đánh mất khả năng nghe – nhìn và nói về Thiên Chúa. Chúng ta mất khả năng nghe vì chúng ta đã cố tình không muốn nghe và không chăm chú lắng nghe. Vì thế Lời dạy bảo của Chúa không thể lọt vào tim vào trí chúng ta được. Chúng ta đang sống trong môi trường có quá nhiều âm thanh ồn ào, khiến chúng ta giảm khả năng nghe Lời của Thiên Chúa. Những tiếng ồn này không chỉ là những tiếng ồn của âm thanh chung quanh, mà có cả sự ồn ào trong tâm hồn. Nhiều người đang để trong mình sự ồn ào gào thét của dục vọng, âm thanh của sự gian dối và cả những lời lôi kéo của sự lười biếng vv… khiến chúng ta không nghe được Lời Chúa. Ngoài ra còn có các thứ âm thanh khác trong tâm hồn cản trở khả năng nghe của chúng ta, như âm thanh của tiền bạc, danh vọng và các thú vui. Các thứ âm thanh đó khiến cho lòng chúng ta bị khô cứng, tâm hồn bị đóng băng, khiến cho Lời của Chúa và Tin Mừng không thấm vào tim vào hồn chúng ta được.

Trong cuộc sống cộng đoàn và cuộc sống gia đình, nhiều người cũng đánh mất khả năng lắng nghe nhau bởi vì họ nói nhiều hơn nghe, đổ lỗi cho người khác nhiều hơn nhận trách nhiệm về mình. Vì thế cuộc sống chung của cộng đoàn và gia đình thường xuyên bị căng thẳng cãi vã, đưa đến đổ vỡ. Nhiều người mất khả năng lắng nghe là vì họ để trong mình sự kiêu căng, tự mãn khiến cho tâm hồn không thể tĩnh lặng để có thể lắng nghe nhau và xét lại những hành vi của mình.

Nguy hiểm hơn nữa đó là tình trạng câm điếc trong tâm hồn đang xảy ra nơi chúng ta, khiến ta không nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa, không nhìn thấy những việc Chúa đang thực hiện cho mình và gia đình; cố tình không muốn nghe Lời Chúa nhắc bảo qua tiếng nói lương tâm, qua luật Chúa và Giáo Hội. Có nhiều người bị điếc khi làm ngơ trước lời kêu cứu của anh chị em đang gặp khổ đau. Có người bị câm vì sợ hãi không dám nói lên sự thật và không dám bênh vực cho sự thật. Có nhiều người vì quyền lợi, địa vị hoặc vì một thứ bổng lộc nào đó của xã hội, mà chấp nhận biến mình thành kẻ điếc, thành người câm hoặc mù lòa.

Muốn được chữa khỏi sự câm điếc trong tâm hồn, chúng ta cần phải có những bước đi của người câm điếc trong Tin Mừng hôm nay. Đó là: để cho Chúa kéo ra khỏi đám đông là những thói quen cũ, cùng những thói xấu và sự lười biếng để ở riêng một mình với Chúa trong cầu nguyện và gặp gỡ Chúa mỗi ngày. Hãy để cho Lời Chúa đụng chạm đến đôi tai, môi miệng và con mắt tâm hồn, để Ngài tháo gỡ những gì cản trở, trói buộc ta và thanh tẩy môi miệng chúng ta.

Xin cho chúng ta luôn sẵn sàng lắng nghe tiếng Chúa và mở rộng tâm hồn để đón nhận giáo huấn của Chúa. Xin cho chúng ta không ngừng nhận ra quyền năng của Chúa và dùng môi miệng mình để ca tụng tôn vinh danh Chúa luôn mãi. Amen.

 

8. SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA – CHÚA NHẬT 23 TN_B

Lm. Inhaxio Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXIII này cho chúng ta thoáng thấy những dấu chỉ về cuộc biến đổi của những người được cứu độ.

Is 35: 4-7

Ngôn sứ I-sai-a loan báo rằng Thiên Chúa sắp can thiệp để giải phóng họ khỏi cảnh lưu đày ở Ba-by-lon. Những dấu chỉ báo trước ơn cứu độ của Ngài, đó là giải phóng con người khỏi những quyền lực sự dữ.

Gc 2: 1-5

Thánh Gia-cô-bê nhắc nhở rằng trong cộng đoàn của những người đã đón nhận ơn cứu độ, không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào giữa người giàu và người nghèo, bởi vì Thiên Chúa dành chỗ ưu tiên cho người nghèo.

Mc 7: 31-37

Thánh Mác-cô tường thuật việc Đức Giê-su chữa lành một người vừa câm vừa điếc ở miền Thập Tỉnh, việc chữa lành này là giáo huấn về dấu chỉ thời Mê-si-a, thời cứu độ của Thiên Chúa.

BÀI ĐỌC I (Is 35: 4-7)

Bản văn này được đưa vào trong tác phẩm của ngôn sứ I-sai-a đệ nhất (ch. 1-39), một trong những ngôn sứ thời tiền lưu đày, thuộc thế kỷ VIII TCN. Nhưng rõ ràng giọng văn lại là của vị ngôn sứ I-sai-a đệ nhị (40-55), một trong những ngôn sứ thời lưu đày với một viễn cảnh đặc thù của ông: ngày cứu thoát những người lưu đày ở Ba-by-lon sắp đến rồi.

1. Ngày cứu thoát sắp đền gần rồi

Vị ngôn sứ mời gọi những người lưu đày: “Hãy can đảm lên, đừng sợ!”, vì sắp tới ngày Thiên Chúa báo phục cho dân Ngài, ngày Thiên Chúa cứu thoát họ khỏi những kẻ áp bức họ. Và ông trưng dẫn hai dấu chỉ của thời cứu thoát này: những bệnh hoạn tật nguyền thể lý sẽ biến mất và sa mạc sẽ không còn vùng đất khô cằn nữa, vì trên con đường hồi hương trở về (từ Ba-by-lon đến Giê-ru-sa-lem, phải băng qua sa mạc Sy-ri) Thiên Chúa sẽ làm những điều kỳ diệu: “kẻ què sẽ nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người câm sẽ reo hò” và “miền nóng bỏng biến thành hồ ao, đất khô khan có suối nước dâng trào”.

Chắc chắn những hình ảnh này là lối nói ngoa dụ để diễn tả niềm hân hoan của những người lưu đày mong ước được gặp lại cố hương. Nhưng sâu xa hơn, những hình ảnh này diễn tả một thực tại tinh thần. Thiên Chúa đã bày tỏ lòng xót thương; Ngài đã không còn nhớ đến những tội lỗi của dân Ngài và đưa họ trở về quê cha đất tổ, theo cách nào đó Ngài làm mới lại Giao Ước của Ngài với họ.

2. Cứu thoát khỏi những quyền lực sự ác

Những người mù sẽ được sáng mắt để thấy được ý nghĩa sâu xa của biến cố; những người điếc nghe được những tin vui và những người què sẽ vui mừng hớn hở. Trong một đoạn văn trước đó theo cùng văn mạch, chúng ta đọc thấy: “Ngày ấy, kẻ điếc sẽ được nghe những lời trong sách, mắt người mù sẽ thoát khỏi cảnh mù lòa tối tăm và sẽ được nhìn thấy. Nhờ Đức Chúa, những kẻ hèn mọn sẽ ngày thêm phấn khởi, và vì Đức Thánh của Ít-ra-en, những người nghèo túng sẽ nhảy múa tưng bừng” (Is 29: 18-19). Chúng ta có thể xác định thêm nữa: vào thời này, cũng như vào thời Đức Giê-su, những tật nguyền thể lý được coi như những hình phạt vì tội lỗi (Ga 9: 1-3); vì thế, nếu những người mù được mở đôi mắt để thấy, nếu những người điếc được mở đôi tai để nghe, chính vì những nguyên nhân gây nên những đau khổ của họ đã biến mất: những tội lỗi của họ đã được tha thứ.

Rõ ràng, sấm ngôn mang chiều kích Mê-si-a: “Chính Người sẽ đến cứu anh em”, nghĩa là, Ngài bày tỏ lòng xót thương và ban ơn tha thứ tội lỗi của thế giới. Việc chữa lành những bệnh hoạn tật nguyền thể lý là tiên báo việc chữa lành những đau khổ tinh thần. Khi Gioan Tẩy Giả băn khoăn muốn biết phải chăng Đức Giê-su thật sự là Đấng Mê-si-a, Đức Giê-su trả lời cho ông qua những người được thánh nhân sai đến: “Các ông cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc nghe được…” (Mt 11: 4). Đây là những dấu chỉ thời Mê-si-a mà các ngôn sứ đã báo trước. Tin Mừng hôm nay khẳng định lời loan báo này.

BÀI ĐỌC II (Gc 2: 1-5)

Chúng ta tiếp tục đọc thư của thánh Gia-cô-bê. Bản văn là kim chỉ nam thực hành những nhân đức, trong đó đức khó nghèo chiếm một chỗ quan trọng.

1. Thái độ phản chứng đối với những giá trị Tin Mừng

Có sự phân biệt đối xử giữa người giàu và người nghèo trong buổi hội họp cộng đoàn Ki-tô hữu, vì thế thánh nhân đã lên án nghiêm khắc thái độ phản chứng đối với những giá trị Tin Mừng này. Cách tiếp đón ân cần vồn vã và khúm núm đối với những người giàu và cách chào đón khinh thường đối với những người nghèo lại trở nên kỳ chướng hơn nữa khi những người Ki-tô hữu họp nhau lại để cầu nguyện và chúc tụng “Đức Giê-su Chúa chúng ta, là Chúa vinh quang”.

2. Tình huynh đệ Ki-tô hữu

Thánh Gia-cô-bê nhấn mạnh rằng tình huynh đệ Ki-tô hữu phải cho thấy không có bất kỳ cách đối xử thiên tư nào. Xem ra trong cộng đoàn Ki-tô hữu gốc Do thái mà thánh nhân ngỏ lời có một sự phân biệt đáng kể giữa những người nghèo và những người giàu, những người hèn mọn và những người có địa vị trong xã hội. Chúng ta phải nhắc những người giàu nhớ chỗ danh dự mà Thiên Chúa đã ban cho những người nghèo trong ý định của Ngài. Phù hợp với truyền thống Kinh Thánh liên quan đến “những người nghèo của Đức Chúa”, thánh Gia-cô-bê ca ngợi tấm lòng rộng mở và tràn đầy niềm tin của những người nghèo: người nghèo thì “giàu đức tin và thừa hưởng vương quốc”.

TIN MỪNG (Mc 7: 31-37)

Đức Giê-su rảo khắp vùng đất dân ngoại để thi hành sứ mạng của mình: “Đức Giê-su lại bỏ vùng Tia, đi qua ngả Xi-đôn, đến biển hồ Ga-li-lê vào miền Thập Tỉnh”. Chúa Giê-su vừa mới chữa lành đứa con gái người phụ nữ dân ngoại (7: 24-30), giờ đây Ngài sắp thi ân giáng phúc cho một dân ngoại khác, người vừa câm vừa điếc. Thánh Mác-cô là tác giả duy nhất trong bốn thánh ký thuật lại việc chữa lành người câm điếc này. Cuộc hành trình qua lãnh địa rộng lớn của dân ngoại có thể do ý định của thánh Mác-cô như tham dự trước sứ mạng của Giáo Hội cho dân ngoại.

1. Tác nhân chính của việc chữa lành

Thánh Mác-cô đã dàn dựng hoạt cảnh chữa lành này khá đặc biệt: “Người kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh”. Vào thời Đức Giê-su, người ta cho là nước miếng có hiệu lực chữa lành, đặc biệt hơn đối với mắt, như một trong những bản văn của sử gia La-tin, Tacite, làm chứng điều này (Tacite, Histoire, IV, 8, 1.). Đức Giê-su cũng sẽ dùng cách thức này trong việc chữa lành người mù ở Bết-xai-đa (Ga 9: 6). Đang ở giữa vùng đất dân ngoại, Chúa Giê-su đã thích ứng lối chữa bệnh rất phổ biến này vào môi trường của họ. Loại chữa bệnh này được gặp thấy đầy dẫy trong các giai thoại ở vùng đất dân ngoại thời đó, nên các độc giả đầu tiên của Tin Mừng Mác-cô chẳng lấy gì làm ngạc nhiên, vì họ biết các tập tục của những người đương thời với họ.

Tuy nhiên, tác nhân chính của việc chữa lành chính là “lời của Đức Giê-su” mà thánh Mác-cô trích dẫn bằng tiếng A-ram “Ép-pha-ta” nghĩa là “hãy mở ra”. Ở giữa bản văn Hy ngữ, thánh ký đã gìn giữ những lời A-ram của Chúa Giê-su như câu chuyện phục sinh con gái của ông Gia-ia: “Ta-li-tha-khum”, nghĩa là: “Này cô bé, Thầy truyền cho con: chỗi dậy đi!” (5: 41). Đừng thấy ở nơi chi tiết này ý muốn gây nên một điều kỳ lạ đến sửng sốt, nhưng đúng hơn nỗi bận lòng về tính xác thực: chính những lời này của Đức Giê-su chứ không gì khác, đã có hiệu lực chữa lành và phục sinh người chết.

Người ta có thể nghĩ rằng việc Đức Giê-su chữa lành người câm điếc này có kèm theo lời cầu nguyện: “Người ngước mắt lên trời” chỉ cho thấy tác động của lời cầu nguyện. Sau này, Đức Giê-su chữa lành một em bé bị quỷ ám bằng cầu nguyện, mà trước đó, các môn đệ đã không thể vì thiếu cầu nguyện (Mc 9: 28-29).

2. Ý nghĩa cử chỉ của Đức Giê-su

Dù thế nào, chúng ta cũng thắc mắc những cử chỉ này của Đức Giê-su có ý nghĩa gì, khi kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông và chỉ có các môn đệ Ngài là những chứng nhân. Lời giải thích chắc chắn được gặp thấy ở nơi toàn cảnh của các chương 6, 7 và 8 của Tin Mừng Mác-cô. Kể từ phép lạ bánh hóa nhiều, thánh ký nêu bật tâm trí quá ngu muội của các môn đệ: “Các ông đã không hiểu ý nghĩa phép lạ bánh hóa nhiều: lòng trí các ông còn ngu muội” (6: 52). Đức Giê-su quở trách sự mù lòa và câm điếc của các ông trước sứ điệp của Thầy mình: “Anh em có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe ư?” (8: 18).

Đúng là những lời quở trách này được thốt lên vào thời điểm phân cách hai việc chữa lành: việc chữa lành người vừa câm vừa điếc ở đây và chữa lành một người mù ở Bết-xai-đa sau này (8: 22-26). Hai việc chữa này được thuật lại gần giống nhau. Trong cả hai trường hợp, Đức Giê-su cách ly bệnh nhân, và trong cả hai trường hợp, việc chữa lành không ngay lập tức (việc chữa lành anh mù ở Bết-xai-đa được thực hiện qua hai giai đoạn). Cuối cùng, trong cả hai trường hợp, thánh ký đều cho thấy chỉ có các môn đệ là những chứng nhân.

Chúng ta không thể nào không hiểu rằng cử chỉ này là một dấu chỉ được diễn tả bằng hành động như hành động biểu tượng của các ngôn sứ kèm theo những lời cảnh báo của họ: như ngôn sứ Giê-rê-mi-a đập vỡ tan từng mãnh một bình gốm trước cổng thành Giê-ru-sa-lem để loan báo cuộc tàn phá thành thánh Giê-ru-sa-lem sắp đến gần rồi, hay như ngôn sứ Ê-dê-ki-en thực hiện dáng điệu của một người bị phát lưu trong nhiều ngày liền để loan báo cho đồng bào của mình số phận đang chờ đợi họ. Cũng theo một cách như vậy, Đức Giê-su đã cho các môn đệ thấy họ đã chậm hiểu như thế nào, Ngài muốn họ biết rằng Ngài đã đổ hết công sức như thế nào để họ hiểu sứ điệp và con người của Ngài. Rõ ràng, lệnh truyền “Hãy mở ra” được ngỏ lời trực tiếp đến từng môn đệ của Ngài, họ là những người vừa câm vừa điếc.

3. Không được tiết lộ cho ai biết

Lẽ ra sau khi bệnh nhân được chữa lành, trình thuật có thể chấm dứt ở đây. Tuy nhiên, một lần nữa, Chúa Giê-su truyền cho những người chứng kiến phải giữ kín chuyện này, không được tiết lộ cho ai biết, như trước kia Chúa Giê-su đã truyền lệnh cho người phong hủi được chữa lành (1: 44) và cho gia đình của cô bé được sống lại (5: 43). Trong sách Tin Mừng của mình, thánh Mác-cô thường nhấn mạnh lệnh cấm này mà các nhà chuyên môn gọi là “Bí Mật Đấng Thiên Sai”. Trong tất cả các trường hợp ấy, Đấng Mê-si-a đã biểu lộ quyền năng Nước Thiên Chúa nơi bản thân Ngài. Tuy nhiên Ngài không muốn công bố sứ mệnh Mê-si-a trước kỳ hạn, bởi vì người ta có thể hiểu sai tư cách “Mê-si-a” của Ngài. Tước hiệu này Ngài chỉ nhận được cách thỏa đáng qua lời tuyên xưng đầy ý thức của Phê-rô nhân danh các môn đệ: “Thầy là Đức Ki-tô” (8: 30). Và tước hiệu ấy sẽ chỉ nhận được ý nghĩa trọn vẹn ở nơi cuộc Tử Nạn của Ngài qua lời tuyên xưng của viên đại đội trưởng ngoại giáo: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (15: 39).

4. Phản ứng của dân chúng

“Nhưng Người càng truyền bảo họ, họ lại càng đồn ra”: Như vậy, ngay lúc này đây, thánh Mác-cô lại cho thấy rõ là lệnh truyền giữ im lặng của Chúa Giê-su đã bị người ta cố tình vi phạm. Sở dĩ như thế là vì trong khi Mác-cô ghi lại trình thuật này, Tin Mừng Chúa Ki-tô Cứu Thế đã loan ra đến tận các vùng dân ngoại, đến tận cả Rô-ma. Giờ đây quả thực tốt đẹp biết bao khi Tin Mừng ấy đã được “rao truyền” ở giữa lòng thế giới.

Lời phát biểu của đám đông: “Ông làm cho kẻ điếc nghe được và kẻ câm nói được” ám chỉ đến sấm ngôn của ngôn sứ I-sai-a (Bài Đọc I), như vậy, sấm ngôn của ngôn sứ I-sai-a đã được ứng nghiệm nơi sứ vụ của Chúa Giê-su, Ngài là Đấng phải đến để cứu thoát con người khỏi quyền lực sự dữ. Cuối cùng, thánh Mác-cô còn muốn trình bày ở đây phản ứng của quần chúng ngoại giáo bằng một lời tuyên xưng đức tin rất mãnh liệt. Họ dùng những lời của ngôn sứ I-sai-a để chúc tụng Chúa Giê-su.

Chúa Giê-su thực sự mời gọi các bạn hữu của Ngài – kể cả Mác-cô cũng như các độc giả của ông – mở rộng tấm lòng mà đón nhận lời nói và hành động của Ngài, đồng thời can đảm “rao truyền” lời nói và hành động của Ngài cho thế giới.

Các bài mới
Các bài đã đăng