Suy niệm Lời Chúa
CÁC BÀI SUY NIỆM CHÚA NHẬT 5 PHỤC SINH – Năm B
Đăng lúc: 11:10 | 26/04/2018
Lượt xem: 169
Như cành nho phải liên kết với thân nho mới sinh hoa kết quả, ta phải liên kết mật thiết với Đức Giêsu - nguồn cội sự sống của chúng ta. Nhờ đó ta mới "sinh hoa trái" là yêu thương một cách hữu hiệu, bằng việc làm có sức biến đổi môi trường chung quanh, tạo sự hạnh phúc cho người khác...
CÁC BÀI SUY NIỆM CHÚA NHẬT 5 PHỤC SINH – Năm B

CÁC BÀI SUY NIỆM CHÚA NHẬT 5 PHỤC SINH – Năm B

Ga 15,1-8

 

1. Người Kitô hữu sinh hoa trái trong Chúa Kitô

Người trồng cây mong được ăn trái. Muốn cây có trái, người ta phải lắm công phu chăm sóc. Không phải cây cứ xanh tốt lớn mạnh là có trái. Có những cây xum xuê cành lá, nhưng đến ngày mùa thu hoạch thì chẳng thấy được trái nào. Xanh tốt như thế không phải là thành công, nhưng là thất bại. Cũng vậy, một cây nho muốn có nhiều hoa trái cần phải có hai điều kiện.

Một là cành nho phải liên kết với cây. Cành nho không liên kết với cây nho, không thể sinh hoa trái. Cành nho không liên kết với cây nho thì dòng nhựa nuôi dưỡng thân cây bị tắc nghẽn. Sâu bọ đục khoét làm cho cành cây bị thương tổn, không còn tiếp nhận được nguồn nhựa sống của thân cây truyền sang. Chỉ khi cành nho kết hiệp chặt chẽ với cây, dòng nhựa từ thân cây mới truyền sang cành, cho cành trổ sinh hoa trái.

Hai là cành lá nho phải được cắt tỉa. Ai đã trồng cây thì biết cành lá phải được cắt tỉa thế nào. Nếu cứ để cành lá cây nho phát triển tự do, cây sẽ xanh tươi xem rất đẹp mắt nhưng không có trái nho nào cả. Muốn cây nho có quả, phải tỉa bớt cành lá. Việc cắt tỉa làm cho dòng nhựa không bị phân tán, nhưng tập trung vào những cành chính, dồn vào cho hoa sung sức, cho quả đầy đặn.

Như cành gắn liền với thân cây nho mới sống được và sinh hoa trái. Nếu cành nào tách rời khỏi thân cây nho, sẽ khô héo và cho vào lửa. Cũng vậy, người tín hữu phải sống kết hợp với Chúa Kitô mới có sự sống của Thiên Chúa và được sống đời đời, nếu không, sẽ chết đi và bị quăng vào lửa.

Như cành nho phải liên kết với thân nho mới sinh hoa kết quả, ta phải liên kết mật thiết với Đức Giêsu. Người là nguồn cội sự sống của chúng ta. Tách lìa Người, chúng ta không thể sống, càng không thể phát triển được. Người là dòng sông ân sủng. Khi ta kết hiệp với Người, ân sủng tuôn đổ vào cuộc sống, làm cho chúng ta được vui sống và sống sung mãn. Sự kết hiệp mật thiết với Chúa làm cho chúng ta sống sự sống của Người, nói lời nói của Người, hành động theo gương của Người, phán đoán theo chuẩn mực của Người, nhìn con người và sự việc bằng cặp mắt của Người, yêu thương bằng trái tim của Người. Khi sự kết hiệp đã đến mức hoàn hảo, chính Người hành động qua ta và vì thế, những hoa trái sẽ vô cùng phong phú.

Vì vậy, mối liên hệ giữa Chúa Giêsu và các Kitô hữu là mối liên hệ mật thiết đến nỗi cả hai trở nên như một, vì cùng sống chung một sự sống. Chúa Kitô và các Kitô hữu tạo thảnh một cộng đồng sự sống, như các chi thể trong một thân thể mà thánh Phaolô gọi là "nhiệm thể, hay thân thể mầu nhiệm" của Chúa Kitô. Trong nhiệm thể ấy, các chi thể liên kết với nhau và liên kết với một đầu như các cành nho liên kết với thân cây nho và một góc nho. Cũng như nhựa sống lưu thông từ góc nho đến các cành cây, thì sự sống của Thiên Chúa cũng được chuyển đến các chi thể như trong một thân thể. Như thế, các Kitô hữu được gắn với nhau vào một góc là Chúa Giêsu: "Anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em"

Phải chịu cắt tỉa. Cành nho muốn sai trái phải chịu tỉa bớt những cành lá rườm rà. Cũng vì thế, con người chúng ta cũng phải để Chúa cắt tỉa những gì dư thừa cản trở ơn thánh sinh hoa kết quả. Phải cắt tỉa những ý muốn riêng tư để chuyên tâm tìm thánh ý Thiên Chúa. Phải cắt tỉa những hình thức bề ngoài để chìm vào nội tâm sâu lắng. Phải cắt tỉa những phô trương quyền lực để mặc lấy tâm tình đơn sơ khiêm nhường. Chúa cắt tỉa chúng ta bằng những thất bại ta gặp phải. Chúa huấn luyện ta bằng những lời phê bình chỉ trích của những người chung quanh. Chúa mài giũa chúng ta bằng những hiểu lầm nghi kỵ của người khác. Chúa đào tạo chúng ta trong những phản bội của người thân tín. Việc cắt tỉa làm cho ta đau đớn, nhưng đem lại những lợi ích vô cùng phong phú.

Một điểm khác cũng được Chúa Giêsu nhấn mạnh ở đây, đó là "Cành nho phải sinh hoa trái". Người Kitô hữu không chỉ gắn với thân cây mà còn sinh hoa trái nữa. Bởi vì, không thiếu những cành gắn chặt với cây mà không sinh trái nào. Những cành đó sẽ bị chặt đi và quăng vào lửa. Không sinh trái là bằng chứng không còn "Ở trong Thầy", không còn kết hợp với Thầy, mặc dầu bên ngoài vẫn là một cây "xanh rờn"! Sinh hoa kết quả dồi dào mới trở thành người môn đệ thật của Thầy.

Hình ảnh có thể làm cho chúng ta sửng sốt. Đâu phải đợi đến khi bị liệt vào hạng khô khan, nguội lạnh hay phạm những tội tầy đình mới bị loại khỏi cộng đoàn của Chúa. Sự sống từ Chúa Giêsu chi có thể là sức sống, làm nở hoa kết trái. chỉ có hai trạng thái: sinh trái hoặc không sinh trái, không có trạng thái thứ ba, hiểu theo nghĩa "cầm hơi hay cầm chừng". Người Kitô hữu trở thảnh môn đệ của Chúa Kitô bằng chính việc sinh nhiểu hoa trái và Thiên Chúa được tôn vinh cũng bằng chính việc người Kitô hữu sinh nhiều hoa trái. Chúa Giêsu đã khẳng định: "điều làm Chúa Cha được tôn vinh là anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy".

Thế nào là sinh hoa kết trái? chúng ta có thể tìm thấy câu trả lời ngay trong bài đọc 2 hôm nay, Thánh Gioan nói: "ai tuân giữ giới răn của Thiên Chúa thì ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong kẻ ấy, và giới răn của Thiên Chúa là tin vào Danh Đức Giêsu Kitô, Con của Ngài, và yêu thương nhau như Ngài đã truyền dạy". Thánh Gioan còn căn dặn: "Chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương thật sự bằng việc làm" (1Ga 3, 18).

Do đó, chúng ta có thể hiểu được rằng, "sinh hoa trái" là yêu thương một cách hữu hiệu, bằng việc làm có sức biến đổi môi trường chung quanh, tạo sự hạnh phúc cho người khác. Phải phục vụ thật lợi ích của anh em, thì mới nói được rằng chúng ta đang ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong chúng ta. Chỉ có tình thương yêu đích thực, thực từ trong lòng ra hành động, mới là tình yêu thương hiệp nhất, hiệp nhất chúng ta nên một với anh em, hiệp nhất chúng ta trong Chúa Giêsu Kitô là " cây nho Chúa Cha trồng tỉa" để sinh nhiều hoa thơm trái ngọt.

Hình ảnh của sự cắt tỉa còn gợi lên sự mất mát, đau đớn. Thế nhưng, mất mát dẫn đến thắng lợi, khổ đau dẫn đến vinh quang, sự chết dẫn đến phục sinh. Đó là bài học xuyên suốt cuộc đời, lời rao giảng và cái chết của Chúa Giêsu. Nhựa sống từ cây nho là Chúa Giêsu đã không ngừng nuôi sống Giáo Hội. Với cái nhìn đức tin, người ta vẫn nhìn thấy cái được trong cái mất, qua việc trở lại với những giá trị của Tin Mừng, Giáo Hội cởi bỏ được chiếc áo của quyền lực và hào nhoáng, để mặc lấy tinh thần phục vụ, khiêm tốn, đơn nghèo. Sự hoán cải của nhiều Kitô hữu trở thành con đường cho những người thành tâm thiện chí của người cần gặp Chúa Kitô. Giáo Hội sinh nhiều con cái là nhờ các chi thể của mình là những cành nho luôn được cắt tỉa.

Như cành liền cây mới sống được và phải cắt tỉa mới sinh nhiều hoa trái, Người Kitô hữu phải sống nhờ Chúa Kitô, với Chúa Kitô và trong Chúa Kitô mới có thể sống như Chúa Kitô, sống cho Thiên Chúa và cho mọi người anh em. Đó là đòi hỏi căn bản của đời sống Kitô hữu. Chúng ta yêu thương mọi người một cách chân thành, và giúp đỡ họ thỉ chúng ta là người ở trong Thiên Chúa, kết hợp với Chúa Kitô, mới thật là cành nho gắn liền với cây nho. Chính Đức Giêsu đã làm gương cho chúng ta khi Người sống kết hiệp mật thiết với Đức Chúa Cha. Sự kết hiệp ấy được diễn tả qua việc Người chuyên tâm cầu nguyện và luôn luôn làm theo ý Chúa Cha. Người đã để cho Chúa Cha cắt tỉa khi Người từ bỏ ý riêng, nhận uống chén đắng, nhận vác thập giá, nhận lấy cái chết tủi nhục. Chính vì thế, Người đã sinh hoa trái dồi dào nuôi sống tất cả chúng ta. Chính vì thế, Người đã trở nên gốc nho sung mãn sự sống để chuyển thông cho chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu là Cây Nho thật, xin cho chúng con biết kết hiệp mật thiết với Chúa. Xin hãy cắt tỉa những gì vô ích trong chúng con, để chúng con sinh nhiều hoa trái tốt như lòng Chúa mong ước. Amen.

 

2. Ai đổi đời ai

(Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)

Cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu Phục Sinh trên đường đi Damas đã đổi đời Phaolô. Từ một người nhiệt thành với truyền thống tổ tiên, làm Phaolô hăm hở đi bắt các Kitô hữu về “trị tội”, trở thành một tông đồ hăng say làm chứng tin mừng Đức Giêsu Phục Sinh. Niềm tin vào Đức Giêsu Phục Sinh làm Phaolô và các Kitô hữu trở thành những con người khác, như dấu chỉ Thiên Chúa đang hiện diện và yêu thương con người.

I. Phaolô làm chứng Đức Giêsu đã phục sinh

Trước khi ngã ngựa trên đường Damas, Phaolô là một người rất đặc biệt. Ngài là một biệt phái, nghĩa là, một người rất nhiệt thành với lề luật Do Thái, và sẵn sàng làm tất cả để bảo vệ lề luật. Phaolô đã từng là người giữ áo cho những người ném đá thánh Têphanô. Phaolô đã được phép của các người cầm quyền để đi lùng bắt các Kitô hữu Do Thái đem về Yêrusalem để trị tội. “Có lúc, những người bắt bớ các con, cứ tưởng rằng đó là việc tôn thờ Thiên Chúa” (Ga.16, 2). Nhưng với biến cố Damas, Phaolô đã trở thành con người khác.

Trước khi gặp gỡ Đức Giêsu Phục Sinh, với Phaolô, Do Thái giáo là tôn giáo duy nhất đúng. Tất cả những gì trái với quan niệm truyền thống cha ông để lại, là sai lầm và phải loại bỏ. Những ai cố tình đi theo một niềm tin khác, phải bị trừng phạt. Đó là lý do tại sao Phaolô đi lùng bắt Kitô hữu ở Damas. Sau biến cố Damas, Phaolô đã thay đổi cái nhìn và thay đổi lập trường sống. Do Thái giáo vẫn đúng đó, nhưng “cái khác” vẫn có thể là sự thật. Đức Giêsu Phục Sinh là một thực tại mà Phaolô đã được gặp gỡ, cảm nghiệm, và rồi trở thành chứng nhân cho Ngài. Phaolô được ơn mở mắt để nhìn ra thực tại Đức Giêsu Phục Sinh; qua biến cố ngã ngựa, ông không thể phủ nhận được điều trước đó ông đã một mực chối từ, ông đã nhận ra sự thật, và kể từ đó Phaolô đã rao giảng cho dù bị ghét và bị tìm giết.

Đức Giêsu Phục Sinh đã đổi đời Phaolô. Từ một người không tin vào Đức Giêsu, Phaolô trở thành chứng nhân nhiệt thành của Đức Giêsu Phục Sinh. Từ một người lùng bắt người khác, giờ đây lại là kẻ bị lùng bắt. Biến cố gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh trên đường đi Damas đã làm Phaolô thành một người hoàn toàn khác, đến độ ngài nói: “kể từ khi tôi biết Đức Giêsu Phục Sinh, tôi coi mọi sự như phân bón. Kể từ khi biết Đức Giêsu, tôi coi mọi sự như thua lỗ bất lợi cả trước cái lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô Chúa tôi” (Pl.3, 8-9). Phaolô đã được Thiên Chúa biến đổi qua cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu Phục Sinh.

II. Đời sống của một người tin vào Đức Giêsu Phục Sinh

Trong thư thứ nhất của thánh Gioan, Kitô hữu được nhắn nhủ: “chúng ta đừng yêu bằng lời nói và miệng lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm”. Đức tin phải chi phối cách sống của Kitô hữu. Đức tin không có việc làm là đức tin chết. Đức tin của Kitô hữu không chỉ là chấp nhận một mệnh đề là đúng, nhưng còn là cái biết chi phối toàn bộ đời sống của họ. Chính việc làm của Kitô hữu giúp cho người khác thấy đức tin của họ.

Lời Chúa trong thư của thánh Gioan hôm nay còn cho Kitô hữu hiểu hơn nữa về Thiên Chúa và về con người. Nếu lòng chúng ta không cáo tội chúng ta, thì chúng ta được mạnh dạn đến cùng Thiên Chúa; nhưng nếu lòng chúng ta cáo tội chúng ta, thì chúng ta biết Thiên Chúa là Đấng cao cả hơn lòng chúng ta, và Người biết mọi sự. Thiên Chúa nhân từ và yêu thương chúng ta hơn chúng ta có thể tưởng được. “Như trời cao hơn đất bao nhiêu, tư tưởng của Ta cũng vượt xa tư tưởng của các ngươi bấy nhiêu”. Đừng bao giờ ép Thiên Chúa phải phạt người khác theo phán đoán của mình. Thiên Chúa không phạt ai cả, Ngài chỉ biết yêu thôi. Đau khổ là do con người làm cho nhau hoặc tự chuốc lấy cho mình mà thôi.

Thiên Chúa là Đấng Tuyệt Vời mà con người không thể hiểu thấu. Ngài nhân từ yêu thương con người hơn con người có thể nghĩ có thể ngờ. Ngài yêu thương con người ngay khi con người còn là tội nhân, xấu xa hư hỏng. Không ai có thể ngờ Ngài đã cho Đức Giêsu phục sinh. Không ai dám ngờ rằng Thiên Chúa có thể chấp nhận để con người giết Con Ngài. Không ai dám ngờ rằng Thiên Chúa vẫn yêu thương con người đến độ Lời của Ngài nhập thể làm người, ngay cả khi con người đang phản bội và xa lánh Ngài. Thiên Chúa nhập thể là điều vượt sức hiểu của con người, và vượt ngay cả sức hiểu biết của thiên thần. Thiên Chúa là Đấng vượt quá lòng chúng ta có thể ngờ, và bây giờ Ngài vẫn đang tiếp tục làm những điều kỳ diệu và tuyệt vời cho mỗi người chúng ta, trong đời mỗi người chúng ta.

III. Thầy là cây nho các con là nhành

Tương quan giữa Thiên Chúa, Đức Giêsu, và chúng ta, được Tin Mừng theo thánh Gioan diễn tả như tương quan giữa người trồng nho, cây nho và nhành nho. Đức Giêsu là cây nho, chúng ta là nhành. Một nhành chỉ sống được và sinh hoa trái nếu nhành đó liên kết với thân cây, để lấy nhựa sống từ cây. Giữa chúng ta và Đức Giêsu, có một mối dây rất gần gũi và mật thiết, như nhành và cây. Nhành nào tách khỏi cây, sẽ khô héo và chết. Tương tự vậy, chúng ta sẽ khô héo và chết nếu chúng ta không liên kết với Đức Giêsu. Đức Giêsu là sức sống của mỗi người chúng ta.

Thiên Chúa như người chủ vườn nho. Ngài chăm sóc cây nho và nhành nho. Ngài muốn cây nho nhành nho sinh nhiều hoa trái. Ngài chăm bón cắt tỉa, để nhành nho sinh trái nhiều hơn. Hình ảnh Thiên Chúa như người chủ vườn rất quen thuộc đối với Đức Giêsu. Người chủ vườn trông nom, chăm bón vun trồng để cây nho nhành nho sinh trái. Thiên Chúa chăm sóc mỗi người chúng ta như vậy. Nếu Ngài có cắt tỉa, là để chúng ta sinh nhiều hoa trái hơn.

Tương quan giữa Đức Giêsu và Thiên Chúa như tương quan giữa cây nho và ông chủ vườn. Cây nho luôn tùy thuộc chủ vườn. Người chủ vườn luôn quan tâm và chăm bón để cây nho có nhựa sống cung cấp cho nhành cây, để sinh nhiều hoa trái. Đây là hình ảnh, nó chỉ diễn tả phần nào sự thật. Thiên Chúa luôn có sáng kiến tuyệt vời, để làm những điều kỳ diệu, và ngay cả có thể làm cho những cành nho như thể khô đét có được sức sống và sinh trái. Thiên Chúa là người chủ vườn tuyệt vời. Thiên Chúa làm chúng ta có sức sống và sinh trái qua Đức Giêsu.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ

1. Đức Giêsu là ai đối với Phaolô?

2. Sau khi gặp gỡ Đức Giêsu Phục Sinh, đời sống Phaolô có gì khác?

3. Bạn nghĩ sao khi đọc câu: “Thầy là cây nho, các con là nhành”? Bạn có cảm được sự thân mật và gần gũi giữa Đức Giêsu và bạn không? Nếu được, xin bạn diễn tả.

 

3. Bình an trong Giáo hội

(Suy niệm của Peter Feldmeier - Lm. Văn Hào SDB, chuyển ngữ)

Trong khắp miền Giuđê, Galilê và Samari, Hội thánh được bình an (Cv 9,31)

Năm 2001, Hồng y Walter Kasper và Hồng y Joseph Ratzinger có một cuộc tranh luận sôi nổi nhưng thân tình về bản chất của Giáo hội. Cuộc tranh luận thần học này đã được đăng tải rộng rãi trên các tạp chí. Hồng y Ratzinger biện luận về tính ưu việt của Giáo hội hoàn vũ so với các giáo hội địa phương. Ngài lập luận, ngay từ ban đầu, chúng ta đã thấy rất rõ điều ấy.

Hồng y Kasper thì lại thách thức với những lập luận khác. Ngài cho rằng tư tưởng này khá giống với thuyết duy tưởng của Platon. Theo Ngài, Giáo hội hiện hữu như một thực thể thiêng liêng nhưng Giáo hội chỉ thực sự trở nên hữu hình trong thế giới hôm nay qua những cộng đoàn địa phương cách cụ thể. Hồng y Kasper lý luận rằng các cộng đoàn giáo hội địa phương chính là nền tảng cho sự hiện hữu của giáo hội toàn cầu. Cuộc tranh luận này không chỉ nói về giáo hội sơ khai, nhưng liên quan đến vấn nạn nêu ra là: Quyền bính giáo hội hiện tại nằm ở đâu, đến từ nơi nào và quyền bính đó được thực thi ra sao.

Những trích dẫn từ Thánh Kinh nghiêng về lập luận của hồng y Kasper nhiều hơn, ít nhất qua việc sử dụng các từ ngữ. Thánh Luca trong sách Tông đồ Công vụ, đã dùng hạn từ “giáo hội” , và trong những lần đó, có 18 lần Ngài ám chỉ về giáo hội địa phương. Nhưng chỉ có một trường hợp duy nhất, Luca nói về giáo hội với tính phổ quát, đó là trong bài đoc phụng vụ hôm nay: “Trong khắp mọi nơi, từ Giuđêa, Galilê và Samaria, hội thánh được bình an.”

Khi tôi nhìn vào giáo hội toàn cầu hiện nay, tôi không thấy có sự bình an mà mọi người đều mong ước. Ngay cả tại giáo hội địa phương nơi tôi sinh sống cũng vậy. Giáo phận tỏ vẻ hơi khó chịu với cộng đoàn địa phương tại đại học này, vì đa phần thuộc giới trí thức. Làm cách nào chúng ta có thể trở về với ý nghĩa sâu xa của sự bình an thời giáo hội sơ khai. Nói thẳng ra, chúng tôi ở đây không thể kiến tạo sự an bình thật sự, ít nhất về một vài phương diện nào đó.

Nếu chúng ta đọc lại các thơ của thánh Phaolô, chúng ta cũng thấy vấn đề giống như thế. Ngài rất nhiều lần bình phẩm về giáo hội tại các địa phương và ngay cả khi nói về giáo hội phổ quát, Ngài cũng đã phàn nàn giống như thế. Ví dụ, Phaolô đã phê phán Phêrô như một kẻ giả hình ở Antiokia (Gal 2,11.14). Ngài khiển trách các Kitô hữu ở Galát không nhìn nhận vai trò của Ngài trong việc loan báo Tin mừng (Gal 1,8). Ngài trách cứ cộng đoàn Côrinthô vì tình trạng lộn xộn và chia rẽ (1 Cor 11,17;12,31.)

Thánh Phaolô nói thẳng là có một vài đồng nghiệp rao giảng Tin mừng với những động cơ xấu xa như ganh tị hay tranh chấp (Phil 1,15). Ngài nài xin các tín hữu phải sống huynh đệ, một lòng một trí, đừng vì ganh tị hay ghen ghét hoặc tìm hư danh.( Phil 2,1.5). Cuối cùng, Ngài cũng nhắc nhở đùng ai coi thường Ngài, coi Ngài như thua kém các vị tông đồ khác (2 Cr 12,11). Những vấn đề Phaolô nêu ra, có những nét tương đồng như giáo hội hiện nay, theo như tôi được biết.

Thánh Luca trình bày một Giáo hội lý tưởng hơn là một Giáo hội với những lộn xộn và bất an mà chúng ta dễ thấy. Tuy nhiên, không phải vì thế mà Luca cảm thấy toại nguyện hoàn toàn. Ở đây, Luca chỉ muốn vạch hướng về lý tưởng mà giáo hội phải vươn tới. Ngài nói rằng, chúng ta vẫn có thể trải nghiệm bình an thực sự ngay cả khi chúng ta bị bách hại từ bên ngoài và gặp cả những sóng gió từ bên trong. Thật thú vị, khi chúng ta khám phá ra rằng đoạn văn trích từ sách Tông đồ công vụ mà Giáo hội đọc trong phụng vụ hôm nay diễn tả cuộc gặp gỡ giữa thánh Phaolô và những người Do thái có uy tín theo văn hóa Hy lạp tại Giêrusalem. Họ là đại biểu của giới lãnh đạo Giáo hội lúc bấy giờ, giáo hội địa phương ở Giêrusalem và cả Giáo hội toàn cầu nói chung (Cv 9,29 ).

Kinh qua những cuộc bắt bớ và sát hại, họ tỏ ra rất dè dặt và thận trọng khi nói chuyện với Phaolô. Barnaba bảo đảm cho họ rằng Phaolô là người thuộc bọn họ chứ không phải kẻ thù. Ngài bênh vực Phaolô, và chúng ta thấy Phaolô dần dần đi lại dễ dàng giữa họ.Chính xác hơn, như sách Tông đồ công vụ thuật lại, Ngài đi ra đi vào cùng với họ. Đây là dấu chỉ của sự tương giao bằng hữu. Mối thân tình này có được nơi chúng ta, là phát nguyên sâu xa trong Đức Kitô. Trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu nói Ngài là cây nho, các môn đệ là cành nho. Ngài nhắc nhở rằng nếu tách lìa khỏi Ngài,chúng ta sẽ bị khô héo và sẽ chết. Ngược lại, cùng với Ngài và qua Ngài, chúng ta sẽ triển nở và trổ sinh hoa trái.

Nếu chúng ta muốn Giáo hội được bình an, chúng ta phải cảm tạ Chúa, cũng như phải biết ơn các vị lãnh đạo trong Giáo hội. Các Ngài được trao phó trách nhiệm một cách hợp pháp và cũng là những người được Chúa đặt lên để nâng đỡ chúng ta. Chúng ta cần những tín hữu biết quan tâm lo lắng cho anh chị em mình, như là những bề trên được Chúa cắt đặt, sẵn sàng đối đầu với những thách đố, giống như Thánh Phaolô. Chúng ta cũng cần những con người như Barnaba là những vị lãnh đạo trung tín, biết cách khôn khéo để liên kết anh chị em lại với nhau. Nhưng trên hết, chúng ta cần phải nhận thức rằng mọi người chúng ta đều đang sống cuộc sống thực sự trong Đức Kitô, như cành nho dính kết vào cây nho.

Công đồng Vat II đã dạy rằng “Chúng ta là một Giáo hội duy nhất gồm các Giáo hội địa phương. Tính đơn nhất và tính đa dạng đều góp phần diễn tả đời sống của chúng ta trong Thần khí. Thực hiện cả hai chiều kích này: tính phổ quát toàn cầu và tính cá biệt của các cộng đoàn địa phương, Hội thánh sẽ vươn đạt đến sự bình an thực sự.

 

4. Cây Nho hiệp nhất

(AM Trần Bình An)

Cây mít thường được trồng giáp ranh giữa hai thửa vườn. Với thân mộc xum xuê, cây mít hay mọc hỗn, che phủ tràn lan, nên bị cả đôi bên vườn tận tuỵ cắt cành lá chĩa qua. Nhưng nhờ vậy, cây mít lại càng sai trái, lủng lẳng suốt từ thân đến cành. Vậy mới có câu ca: “Mít chặt, chanh cột. Hoặc là “Mít chặt cành, chanh xén rễ.”

Nếu cứ để cây chanh thoải mái chĩa cành lên trời, thì chẳng thể nào chanh có trái. Nên người ta thường níu cành, cột đá vào kéo xuống, hoặc xén bớt rễ ngang, chanh mới cho sai trái. Cây nhãn muốn ra quả trái vụ, cũng được khắc quanh gốc, cùng các cành lớn. Còn cây dó bầu mà không bị thương tích trên thân, thì không thể nào tích tụ trầm hương. Như thế, có những cây phải chịu thương đau, uốn nắn, cắt tỉa, mới có thể bội thu.

Trong Tin Mừng Thánh Gioan hôm nay, Đức Giêsu tuyên bố mình là cây nho, mọi người đều là cành nho. Cành nào không sinh hoa trái sẽ bị cắt bỏ. Còn cành nào sinh hoa kết trái thì phải chịu cắt tỉa để thêm dồi dào năng suất. Như thế, cành nào muốn sống thì cần liên kết, hiệp nhất với cây nho.

Nhờ Người được sống

Nhờ hiệp nhất với Chúa Giêsu, tín hữu mới được sống thật, sống viên mãn đời này lẫn đời sau. Không như manna trong sa mạc, không như cơm bánh thế gian chỉ đem đến cái chết, bệnh tật, bất an, lo lắng, nỗi buồn, cơn đau, thất vọng, lương thực hằng sống của Chúa Giêsu trao ban, chính là thực thi Thánh Ý Chúa, cùng sống Lời Chúa và đón rước Thánh Thể. “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người.” (Ga 4, 34)

Chọn cái chết hay sự sống là quyền tự do của mỗi người, mà Chúa luôn tôn trọng. Nhưng Người luôn tha thiết mời gọi, khuyên răn sống kết hiệp với Người để có thể tu thân, tích đức và được sống:“Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy.” (Ga 15, 4)

Với lòng thương xót từ bi, Người ân cần cảnh báo hệ quả dành cho những ai dứt khoát tuyệt tình, từ chối hiệp thông với Người:“Ai không ở trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo. Người ta nhặt lấy, quăng vào lửa cho nó cháy đi.” (Ga 15, 6)

Trong xã hội thực dụng hôm nay, thiên hạ đua nhau thờ Thần Tài, sản nghiệp, danh vọng, tham lam vô độ đến vỡ mộng vì mất mát, mất chức quyền, mất tình người. Thay vì hút lấy nhựạ sống thật, thì chỉ toàn tích trữ những nọc độc gian dối, virus đố kỵ, mầm mống chia rẽ, tiêm nhiễm thói xấu, di căn tà đạo, thất đức, bất nhân, bất nghĩa. Vậy làm sao sinh được hoa thơm, trái ngọt?

Thánh Phaolô khuyên nhủ đừng trông cậy vào của cải vật chất phù du, mà luôn trông cậy, hy vọng vào Chúa mà thôi: “Những người giàu ở trần gian này, anh hãy truyền cho họ đừng tự cao tự đại, cũng đừng đặt hy vọng vào của cải phù vân, nhưng vào Thiên Chúa, Đấng cung cấp dồi dào mọi sự cho chúng ta hưởng dùng.” ( 1Tm 6, 17)

Với Người chịu hy sinh

Hiệp nhất với Chúa Giêsu là đồng nghĩa bỏ mọi sự, mà chấp nhận vác thánh giá hằng ngày mà theo Chúa. “Còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn.” (Ga 15, 2)

Con đường Đức Giêsu đi là con đường chông gai, khổ hình và chết nhục nhã, nên Người tiên báo và an ủi các môn đệ qua chính sự phục sinh của Người: “Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan, khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian.” (Ga 16, 33)

Chính vì hiệp thông với cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, muốn noi gương Người, mà Thánh Phaolô hy sinh chịu khổ nhục, tù đầy, xiềng xích, đã viết thư chia sẻ cùng tín hữu thành Philípphê: “Vấn đề là được biết chính Đức Kitô, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết.” (Pl 3, 10-11)

“Con không hiểu tại sao thánh Augustinô cầu nguyện:“Xin cho con biết Chúa, cho con biết con!” Vì Chúa nói với Philipphê: “Đã bao lâu rồi, Ta ở với các ngươi! Thế mà, Philipphê ngươi đã không biết Ta sao?” (Ga 14, 9). Nếu “biết” thật, đời con sẽ đổi hẳn. (Đường Hy Vọng, số 100)

Trong Người được phục sinh

Chỉ khi nào sống kết hiệp mật thiết với Đức Kitô, người tín hữu mới được dưỡng nuôi, phát triển, sinh nhiều hoa thơm trái ngọt, những nhân đức cao quý: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.” (Ga 15, 5)

Ở trong Người là thấm nhuần Lời Chúa, mà đem thực hành mới được sống đời đời. “Ai nghe lời Tôi, và tin vào Đấng đã sai Tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống.“ (Ga 5, 24)

Ở trong Người là thường xuyên đón rước Lương Thực cực quý, Mình và Máu Đức Giêsu trong nhiệm tích Thánh Thể: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi, mà được sống như vậy. (Ga 6, 56-57)

Ở trong Người là cùng chịu vác thánh giá, cùng chịu khổ hình với Đức Kitô, như thánh Phaolô chịu nạn, trở nên đồng hình đồng dạng với Người: “Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào thập giá. Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống trong xác phàm, là sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi.” ( Gl 2, 19-20)

“Một cuộc cách mạng thực sự, khả dĩ canh tân tất cả, từ lòng con người, mà chính mình cũng không dò thấu, đến toàn bộ cơ cấu chính trị, kinh tế, xã hội… của thế giới, không thể thực hiện “ngoài con người, ngoài Thiên Chúa,”chỉ thực hiện “bởi con người, trong Chúa Kitô, với Chúa Kitô.” Con hãy dấn thân vào mặt trận cách mạng thế giới ấy.” (Đường Hy Vọng, số 623)

Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót cứu giúp chúng con là những cành nho yếu đuối, èo uột, mong được hiệp nhất với Cây Nho Đức Giêsu để được chữa trị, chăm sóc, được sống và sinh hoa trái.

Lạy Mẹ Maria, kính xin Mẹ cầu bầu cho chúng con chịu đựng những gian nan, thử thách, những nhát cắt tỉa đau đớn, những sự từ bỏ xác thịt, thế gian và cám dỗ, để chúng con được sống dồi dào mạnh khoẻ, sống tốt lành và bội thu hoa trái sự sáng. Amen.

 

5. Cắt và xén

(Lm Vũ Đình Tường)

Thầy là cây nho và Cha Thầy là người trồng nho.

Cắt đứt hay xén tỉa. Con người thích cắt đứt, chặt bỏ. Thiên Chúa không cắt nhưng xén tỉa, làm đẹp. Khó biết cắt đứt đau hơn hay xén tỉa đau hơn. Cả hai đều làm cho nhựa chảy lã chã. Sáp đóng đen ngòm. Cắt đứt hay xén tỉa đều đau đớn. Cả hai cùng đau nhưng kết quả khác nhau. Cắt đứt là chia lìa, phá huỷ, làm chết đi. Trái lại, xén tỉa mang lại sự sống dồi dào. Xén tỉa làm cho sinh hoa nhiều hơn và trái cũng tốt hơn.

Thực tế cho thấy không phải mọi đau đớn đều có lợi, đều là ý Chúa. Đau đớn gây nên bởi chia rẽ, phá huỷ, hận thù, bất công, gây nên do lòng ích kỉ, bè phái, chủ thuyết hay do bất cẩn. Đau khổ trên không phải ý Chúa. Giết chết và phá huỷ là sáng kiến của con người. Trái lại, đau đớn mang lại sự sống trường sinh, dẫn ta về với Chúa. Đau đớn sinh bởi hy sinh vì tình yêu, vì nước trời vì Phúc Âm. Đau đớn sinh hoa trái tốt, kiến tạo là sáng tạo của Thiên Chúa.

Đối nghịch

Con người sáng chế phương cách tàn bạo, vô nhân đạo, gây đau khổ, tàn nhẫn giết hại nhau. Hành động bất nhân, thất đức gieo đau thương sầu khổ cho nạn nhân, đồng thời để lại tang thương, tàn phá khốc liệt từ đời con lê dài sang đời cháu, gia đình thân nhân, thân hữu nạn nhân. Hành động như thế dù nguỵ biện hợp lí cách nào đi nữa cũng làm mất lòng Chúa.

Thiên Chúa là Đấng đầy yêu thương sáng tạo ơn sống lại, tái tạo hạnh phúc thật, ban bình an tâm hồn và thưởng cuộc sống trường sinh cho những ai lưu lại trong Ngài. Điều này vượt quá trí hiểu và trí tưởng tượng của con người. Vì không thể hiểu nên từ chối chấp nhận lời Chúa hứa ban. Thật là nghịch lí, con người mong trường thọ. Chúa ban ơn sống trường sinh, kẻ từ chối, kẻ coi thường, kẻ đón nhận.

Những ai đặt trọn niềm tin vào Chúa hưởng ơn lộc ngay cuộc đời này. Dù sống nơi có chiến tranh; tâm hồn họ vẫn bình an. Dù bị ngược đãi, đối xử bất công; lòng họ vẫn thư thái. Dẫu có bị tù; họ vẫn hưởng tự do và gần kề cái chết; họ vẫn nhận được sự sống trường sinh.

Tin trước hiểu sau

Hiểu trước tin sau là điều không thể thực hiện. Tin trước hiểu sau là điều có thể xảy ra. Đòi hỏi hiểu rồi mới tin không phải là đức tin. Niềm tin đó không cần thiết vì không dẫn đến ơn cứu độ. Đức tin thuộc thế giới tâm linh, không thể cân đo, không thay hình đổi dạng, bất biến với thời gian. Ánh sáng bộ óc, ánh sáng khoa học soi sáng những gì thuộc về vật thể hữu hình, thuộc về khoa học. Ánh sáng tâm linh soi sáng những gì thuộc về tâm linh. Để có được ánh sáng tâm linh bước đầu tiên cần có là đức tin. Vì thế đức tin được coi là nền tảng cần thiết giúp học hỏi, khám phá tình yêu Chúa. Điều này thực hiện được vì những ai tin vào Thiên Chúa được Thần Khí Chúa hướng dẫn, soi sáng chỉ cho biết Thiên Chúa. Người có đức tin không cậy vào trí khôn, thông minh cá nhân nhưng dựa vào hướng dẫn của Thánh Thần Thiên Chúa. Mà Thánh Thần Chúa chỉ hoạt động trong những tâm hồn có đức tin.

Làm sao trí óc nhỏ nhoi con người hiểu thấu mầu nhiệm tình yêu. Nhờ đức tin hướng dẫn, giúp ta nhận ra tình yêu Chúa. Đây là bước khởi đầu dẫn vào đời sống tâm linh. Đức tin không đòi hỏi chúng ta hiểu nhưng đòi chúng ta yêu. Càng yêu mến nhiều càng hiểu nhiều. Càng lí luận nhiều càng gặp bế tắc. Tình yêu chân chính ẩn hình khi có cãi lí, tranh biện. Trái lại tình yêu chân chính xuất hiện nơi đâu có hy sinh và phục vụ không vị lợi.

Tình yêu Chúa vừa soi sáng vừa thanh tẩy làm trong sáng tâm trí nhận biết sự thật. Từ chối tình yêu Chúa là từ chối ơn thanh tẩy giúp tâm trí trong sáng. Vì thiếu ánh sáng nên tâm hồn sống trong tối tăm. Sống trong tối tăm vì từ chối chấp nhận ánh sáng chân lí là sự thật. Từ chối sự thật sẽ không biết sự thật. Vắng bóng sự thật sao có đời sống công chính? Muốn sống công chính cần nhận ơn Chúa. Muốn nhận ơn Chúa cần phải gắn bó mật thiết với Chúa, như cành nho dính liền thân nho.

Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sanh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.

 

6. Cây nho thật

(Suy niệm của JKN)

Câu hỏi gợi ý:

1. Câu “cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi” nghĩa là gì? Tại sao gắn liền với Đức Giêsu mà lại không sinh hoa trái? Câu này ám chỉ loại người nào?

2. Câu “cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn” nghĩa là gì? Chữ “cắt tỉa” ở đây ám chỉ điều gì? Tại sao lại phải “cắt tỉa”?

3. Từ ngữ “ở lại trong” và “gắn liền với” Đức Giêsu phải được thể hiện thế nào trong đời sống của ta?

Suy tư gợi ý:

1. “Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi”

Đức Giêsu tự ví mình là cây nho, và những người theo Ngài là những cành nho. Cành nho sống được là nhờ thân nho. Rời thân nho, cành nho sẽ khô héo và bị quăng vào lửa. Tuy nhiên, Đức Giêsu đưa ra trường hợp này: có những cành nho, tuy gắn liền với cây nho, nhưng lại không sinh hoa trái. Trường hợp này, cành nho sẽ bị chặt khỏi cây nho.

Nói đến trường hợp này, người Kitô hữu không khỏi nghĩ về bản thân mình, liệu đó có phải là trường hợp của mình không? Vì người Kitô hữu là người gắn liền với Đức Giêsu, nhưng quả thật có rất nhiều Kitô hữu suốt bao năm trường đã chẳng sinh ra hoa trái nào! Biết bao Kitô hữu theo Đức Giêsu từ nhỏ tới lớn, thậm chí tới già, nhưng xét cho kỹ và nói cho khách quan, thì họ chẳng tốt hơn người ngoại loại trung bình chút nào! Nhiều người còn tệ hơn cả những người ngoại loại ấy nữa! Họ sẵn sàng ăn gian nói dối, đối xử bất công, sống không tình nghĩa, v.v…

Tương tự, có biết bao linh mục, tu sĩ, mang danh theo Chúa hàng chục hay mấy chục năm, nhưng chẳng tốt hơn những giáo dân bình thường bao nhiêu, đôi khi còn tệ hơn! Sách Khải Huyền nói về hạng người này: “Ta biết các việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi! Nhưng vì ngươi hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta” (Kh 3,15-16).

Trường hợp này rất có thể đúng cho tôi, cho bạn. Vì thế, mỗi người chúng ta cần phải tự vấn mình trước mặt Chúa, để sửa đổi trước khi quá muộn. Chúa vẫn luôn chờ đợi chúng ta sửa đổi, để Ngài khỏi phải ra tay! “Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống” (Ed 18,23; 33,11; x.33,19).

2. “Cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn”

Người làm vườn giỏi biết chăm sóc cây thì biết cắt tỉa cành để nó sinh nhiều hoa trái hơn. Nếu người Kitô hữu là cành nho, Đức Giêsu là cây nho, Thiên Chúa Cha là người trồng nho, thì ắt nhiên Chúa Cha sẽ phải “tỉa cành” để người Kitô hữu “sinh nhiều hoa trái” hơn. Người Kitô hữu “sinh nhiều hoa trái” là người có nhiều tiến bộ về mặt tâm linh (mến Chúa yêu người ngày càng nhiều hơn). Và Chúa Cha “tỉa cành” là giúp người Kitô hữu bỏ bớt những bận tâm vô ích để có thể tập trung năng lực vào việc tiến bộ tâm linh. Ngài có thể làm điều ấy bằng cách làm cho người Kitô hữu ấy bị thiệt thòi mất mát về vật chất, thể chất, cũng như tinh thần, hoặc cho người ấy trải qua những đau khổ thử thách. Vì những đau khổ thử thách có khả năng thánh hóa rất hữu hiệu.

Chính Đức Giêsu, thánh thiện như vậy mà cũng được Chúa Cha “tỉa cành” cho Ngài. Thánh Phaolô nói về điều ấy: “Thiên Chúa (…) đã làm một việc thích đáng, là cho Đức Giê-su trải qua gian khổ mà trở thành vị lãnh đạo thập toàn dẫn đưa mọi người tới nguồn ơn cứu đo” (Dt 2,10). Như vậy, theo thánh Phaolô, nhờ chịu gian khổ mà Đức Giêsu trở nên một người lãnh đạo hoàn hảo.

Tin Mừng cũng nói: “Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” (Lc 24,26). Còn chúng ta, Thiên Chúa cũng mời gọi chúng ta chia sẻ đau khổ với Đức Giêsu, để cùng tham dự vào vinh quang và hạnh phúc của Ngài: “Một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người” (Rm 8,17). “Được chia sẻ những đau khổ của Đức Ki-tô bao nhiêu, anh em hãy vui mừng bấy nhiêu, để khi vinh quang Người tỏ hiện, anh em cùng được vui mừng hoan hy” (1Pr 4,13). “Phần anh em là những kẻ phải chịu khổ ít lâu, chính Thiên Chúa sẽ cho anh em được nên hoàn thiện, vững vàng, mạnh mẽ và kiên cường” (1Pr 5,10).

Đọc hạnh các thánh ta thấy hầu như vị thánh nào cũng đều có kinh nghiệm được Thiên Chúa thánh hóa bằng đau khổ. Chẳng hạn, thánh Têrêxa Avila đã bị Thiên Chúa thử thách bằng biết bao đau khổ, đến độ thánh nhân phải kêu lên: “Chúa đối xử với bạn bè Chúa như vậy, hèn chi Chúa ít bạn là phải!” “Chúa ít bạn là phải!” vì nhiều người dù biết rằng đau khổ có tác dụng thánh hóa bản thân, nhưng vẫn sợ và tránh né đau khổ: nếu phải đau khổ mới nên thánh thì thôi, thà đừng nên thánh! Nghĩ như thế thật là nông cạn, vì nên thánh, nên hoàn hảo là điều rất quí giá: những đau khổ ta phải chịu chẳng là gì cả so với vinh quang và hạnh phúc ta được nhờ sự hoàn hảo thánh thiện, và sự thánh thiện hoàn hảo này ta đạt được là nhờ đau khổ.

Thánh Phaolô viết: “Những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta!” (Rm 8,18). Thánh Phêrô cũng khuyên ta đừng sợ hãi đau khổ: “Nếu anh em chịu khổ vì sống công chính, thì anh em thật có phúc! Đừng sợ những kẻ làm hại anh em và đừng xao xuyến” (1Pr 3,14). Vua Đavít cũng nhận ra ích lợi của đau khổ đối với sự thánh thiện: “Đau khổ quả là điều hữu ích, để giúp con học biết thánh chỉ Ngài” (Tv 119,71).

Người tốt chấp nhận đau khổ vì đau khổ Chúa gửi đến cho mình chẳng những làm cho mình nên công chính, mà còn làm cho những người khác nên thánh thiện nữa: “Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh được tội lỗi của họ” (Is 53,11). Như vậy, tự nguyện chấp nhận đau khổ (chịu đau đớn, cực hình, chịu thiệt thòi, mất tiền, mất thì giờ, mất sức khỏe, bị nghi ngờ, hàm oan…) vì tha nhân là một hành vi bác ái, là một phương tiện thực hiện yêu thương. Vì nhờ ta chấp nhận đau khổ mà nhiều người nên công chính và được hạnh phúc. Vì thế, người có lòng yêu thương thật sự sẽ sẵn sàng lợi dụng đau khổ của mình để làm lợi cho người khác.

3. “Gắn liền với” hay “ở lại trong” Đức Giêsu là gì?

Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu dùng nhiều lần hai từ ngữ “ở lại trong” và “gắn liền với” Ngài, và coi đó như điều kiện cần thiết để “sinh hoa trái” hay “sinh nhiều hoa trái”. Chẳng hạn câu: “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy”. Hai từ ngữ ấy có nghĩa gì? Chúng ta đã thật sự “ở lại trong” và “gắn liền với” Đức Giêsu chưa? - Thực ra, ai là người Kitô hữu thì cũng, một cách nào đó, “ở lại trong” và “gắn liền với” Đức Giêsu. Nhưng phải nói rằng tình trạng ấy có nhiều mức độ khác nhau, từ hời hợt bên ngoài đến thâm sâu bên trong.

Thật vậy, nhiều người mang danh Kitô hữu, nhưng chẳng có tinh thần Kitô hữu bao nhiêu. Họ là những người Kitô hữu “hữu danh vô thực”. Thánh Phaolô có nói về một tình trạng tương tự như vậy trong Do-thái giáo (x. Rm 2,17-23). Có nhiều Kitô hữu có vẻ rất ngoan đạo, đi lễ và rước lễ hằng ngày, có vẻ rất hăng hái trong những việc liên quan đến nhà thờ, hội đoàn, công tác tông đồ. Nhưng đời sống của họ lại chẳng toát lên được tinh thần Kitô giáo, là chân thật, công bằng, yêu thương, thông cảm, tha thứ.

Tình trạng “ở lại trong” và “gắn liền với” Đức Giêsu phải được thể hiện trong ba phạm vi:

* ý thức: luôn luôn ý thức Đức Giêsu ở với mình, ở trong mình. Ngài là tình yêu và sức mạnh của mình. Ngài vô cùng quyền năng, nên với Ngài ta có thể làm được mọi sự. Luôn luôn ý thức Ngài yêu thương mình, nên hoàn toàn tin tưởng và phó thác mọi sự cho tình yêu của Ngài. Nhờ đó, ta luôn luôn bình an, không phải lo lắng gì cho bản thân mình: “Chúa khoan nhân là mục tử tôi, tôi không còn thiếu gì, tôi không còn e sợ nỗi gì…” (Tv 23). Ý thức này phải trở thành một tâm trạng thường hằng của ta.

* tình cảm: luôn luôn yêu mến Ngài, hướng về Ngài, lấy Ngài là lẽ sống cho cuộc đời mình. Vì thế, dấn thân hết mình cho Ngài, cho Nước Ngài, cho kế hoạch cứu độ của Ngài, một cách quảng đại, không so đo tính toán. Ngoài ra, tình yêu của ta đối với Ngài phải được thể hiện cụ thể nơi những hiện thân của Ngài, là tha nhân chung quanh ta, đặc biệt những người gần gũi ta nhất (cha mẹ, vợ con, anh chị em, bạn bè…)

* hành động: luôn luôn làm theo ý muốn của Ngài, theo sự đòi hỏi của tình yêu trong lòng mình. Ý muốn của Ngài được thể hiện qua lời Ngài, qua luật yêu thương của Ngài, qua tiếng lương tâm, qua những biến cố hay hoàn cảnh xảy ra trong đời, đặc biệt những nghịch cảnh.

Khi luôn luôn “gắn liền với” hay “ở lại trong” Ngài, ta sẽ nhận được sức sống, sức mạnh của Ngài, và đời ta sẽ trở thành một cuộc đời tươi đẹp, ý nghĩa, chẳng những đầy sức mạnh, an vui, hạnh phúc mà còn là nguồn sức mạnh, nguồn an vui hạnh phúc cho mọi người nữa.

Cầu nguyện

Lạy Cha, Cha là nguồn sống, nguồn sức mạnh, nguồn tình yêu của muôn loài vạn vật. Con muốn kết hiệp với Cha để nhận được sự sống, sức mạnh và tình yêu hầu sống một cuộc sống tươi đẹp, ích lợi, đồng thời để những ai tiếp xúc với con cũng nhận được sự sống, sức mạnh và tình yêu của Cha từ nơi con. Xin hãy giúp con gắn bó mật thiết với Cha.

 

7. Thầy là cây nho thật

(Lm Jude Sicilano)

Với dân tộc Do thái, hình ảnh vườn nho, cây nho mà Thiên Chúa vừa là người canh tác, vừa là ông chủ rất phổ thông và gần gũi. Đó là hình ảnh Kinh thánh Cựu ước áp dụng cho Israel mà mọi người phải đọc, phải học và suy gẫm. Như thế trong bài đọc Phúc âm hôm nay Chúa Giêsu tự so sánh mình với cây nho Thiên Chúa trồng và các môn đệ là ngành không có gì lạ lẫm, mới mẻ. Trái lại rất dễ hiểu, ngang tầm trí khôn mọi người. Lập vườn trồng nho là nghề sinh sống của một phận không nhỏ trong dân gian Do thái.

Điều Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh hôm nay là Ngài đồng hóa mình với cây nho. Sức sống của nó và các cành đều đến từ Thiên Chúa. Ngài không nói về tương lai, hoặc cuộc đời sau cái chết khi nhân loại sống mật thiết với Thiên Chúa, mà chính ngay cuộc đời này. Bởi lẽ Ngài dùng thì hiện tại. Nghĩa là ngay lúc này các môn đệ và chúng ta phải kết hợp với Ngài bằng sự sống hữu cơ như cành với cây và cố gắng hết sức duy trì sức sống đó: “Khi ấy Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho. Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa kết trái thì Người chặt đi, còn cành nào sinh hoa kết trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn.”

Điểm lưu ý thứ nhất trong đoạn Tin mừng là Chúa Giêsu không tách biệt, không loại trừ ai. Tất cả đều được mời gọi vào cuộc sống của Ngài, chẳng cần quốc tịch, màu da, tiếng nói, tầng lớp nào! Chẳng cần giầu nghèo, sang hèn, thông minh hay ngu tối, khẻo mạnh hay yếu đau, tài giỏi hay đần độn, triệu phú hay ăn mày, tu sĩ hay giáo dân. Chỉ cần điều duy nhất: Tình yêu. Cuộc sống mỗi người sẽ minh chứng cho tình yêu đó, nếu như họ thực sự đã tháp nhập vào thân thể Chúa Kitô.

Trong bài đọc 2, thánh Gioan tóm tắt: “Chúng ta phải tin vào danh Đức Giêsu Kitô, Con của Thiên Chúa và phải yêu thương nhau, theo điều răn Người đã ban cho chúng ta.” Nghĩa là chẳng cần căn cước nào khác, chẳng cần quần áo đẹp, đồng phục, huy hiệu, cờ xí, chẳng cần băng đeo tay, đoàn thể, trong cộng đồng mới mẻ của Chúa Giêsu. Yêu thương nhau là dấu chỉ duy nhất chứng tỏ chúng ta thuộc về cây nho và ở lại trong sức sống của nó. Yêu thương không loại trừ. Yêu thương hết mọi thành phần trong xã hội nhân loại, chứ không phải chỉ những thân thuộc của mình. Yêu thương cả đến những kẻ thù, người vô đạo hay dửng dưng tôn giáo.

Hơn nữa, khi còn ở trần gian Chúa Giêsu tìm đến những kẻ chẳng được xã hội chấp nhận, chẳng được yêu mến, thì đó cũng là đối tượng đặc biệt của những người theo Chúa hiện nay. Sức sống của cây nho lưu thông trong khắp các chi thể. Cành nào ngăn cản, tức khắc bị héo khô. Tín hữu nào mang não trạng loại trừ, tức khắc không còn là môn đệ của Chúa Kitô nữa!

Điểm thứ hai. Chúa Giêsu không xưng mình là gốc hay rễ nho. Nếu Ngài ví như thế, chẳng hoá ra những cành lá gần gốc rễ có thể tự coi quan trọng hơn kẻ khác, vì được ở gần nguồn sống. Họ có thể hãnh diện về vị trí của mình, đòi hỏi những đặc quyền đặc lợi (như nhiều vị trong Giáo hội ngày nay). Họ sẽ độc quyền điều khiển dòng chảy của nhựa cây nho, ban cho người này kẻ khác những ưu đãi. Hậu quả là sẽ có môn đệ hạng nhất, hạng hai, ba, bốn và rốt cùng! Sẽ có những tín hữu sang trọng và những tín hữu thấp hèn.

Chúa Giêsu không gọi mình là gốc nho, mà đơn giản là “cây nho”. Cho nên, chẳng ai có thể cậy mình hơn kẻ khác, hoặc tự hào về địa vị trong Giáo hội. Điều cần quan tâm là mang nhiều hoặc ít hoa trái. Vì đã được nối kết vào cây nho, cho nên trách nhiệm là phải sinh hoa kết trái. Nhờ bí tích thánh tẩy, các tín hữu đã nên một với Đức Ki-tô, sức sống của Ngài lan toả tới hết mọi chi thể, thì không ai được miễn trừ mang nhiều hoa trái. Tuy nhiên thực tế có khi ngược lại, vô sinh, cằn cỗi, héo hon.

Điểm thứ ba, điều kiện để mang nhiều hoa trái là “tỉa sạch”. Có lần trong Phúc âm Gioan, Chúa Giêsu tuyên bố Ngài là nguồn nước hằng sống, lần khác, Ngài là bánh bởi trời ban sự sống cho nhân loại. Bài huấn dụ hôm nay ở trong bối cảnh bữa Tiệc ly, Ngài nói với các môn đệ Ngài là cây nho thực. Các tác giả ban dịch thuật Thánh kinh Anchor (The Anchor Bible) chú giải: dấu chỉ biểu tượng của lòng tin vào Chúa Giêsu là ăn bánh trường sinh và uống nước hằng sống. Các tín hữu tiên khởi khi nghe huấn dụ này thì nghĩ ngay đến nghi lễ bẻ bánh: Hoa trái của cây nho ban sự sống.

Kinh tạ ơn cổ nhất của bí tích Thánh Thể đọc rằng: “Lạy Cha, chúng con cảm tạ Cha vì tôi tớ của Cha, cây nho nhà Đavit thánh thiện mà Cha đã mặc khải cho chúng con trong Đức Giêsu Kitô, tôi trung của Cha”. Trường hợp khác Phúc âm Gioan nói đến hoa trái là ở đoạn 12,4: hạt lúa mì rơi xuống đất phải thối đi mới sinh nhiều hoa quả. Thối đi theo Phúc âm Gioan là chết. Như vậy hoa quả chỉ phát sinh qua đau khổ và sự chết. Nói cách khác “tỉa sạch”. Cho nên, chúng ta phải sống dấn thân để dính liền với cây nho hầu mang nhiều hoa trái. Nhiều lần Chúa Giêsu đã cho chúng ta thấy điều ấy. Tình yêu đòi hỏi hy sinh và ngay cả sự chết. Sống nhung lụa không thể thực hiện được điều Chúa chỉ dạy, có chăng chỉ là môi miệng.

Mùa này, nhất là trong thánh lễ này, chúng ta đang cử hành sự chết và sống lại của Chúa Giêsu. Khi rước lễ chúng ta sẽ nhận được sự sống của cây nho để có khả năng hy sinh trong cuộc sống thường nhật. Tự nhận là thành viên của cộng đoàn theo Chúa Kitô không đủ. Phải chứng tỏ bằng việc làm, phản ánh sức sống của cây nho trong cuộc đời mình. Hằng ngày qua bí Thánh Thể chúng ta nhận được ý chí và nghị lực để sống tình yêu “tỉa sạch” như Chúa Giêsu đã sống.

Bài đọc 1 cho chúng ta hay lúc đầu các môn đệ nghi ngại không dám chấp nhận Phaolô. Những điều họ biết về ông khiến họ sợ hãi. Ông đã mạnh tay bách hại các tín đồ, đồng tình với cái chết của Stephanô. Nhưng Barnaba đứng ra bênh vực cho ông, nói với các Tông đồ rằng Phaolô đã thực sự được nhìn thấy Chúa và đã mạnh dạn đến ương ngạnh rao giảng danh Chúa Giêsu.

Phần Phaolô, ông đã minh chứng được ở Giêrusalem những điều ông đã làm ở các giáo đoàn khác trong miền cận đông. Đó là dạn dĩ rao giảng danh thánh Giêsu. Ông đã thực sự hối cải và đã tháp nhập vào cây nho thật của Thiên Chúa. Cuộc đời ông đã thay đổi hẳn và mang nhiều hoa quả tốt đẹp. Cái giá đương nhiên ông phải trả là chính sự sống mình, như Chúa Giêsu đã cam chịu trước ông. Cho nên chúng ta không thể từ chối cuộc đời Phaolô chỉ có thể sinh hoa trái khi tháp thập vào cây nho. Nhựa sống của cây nho đã chảy tràn sang Phaolô. Người tín hữu muốn sống có hiệu quả không thể làm khác hơn Phaolô. Ngoài ra là thất bại.

Trong tiến trình mang hoa kết trái, chúng ta luôn cần đến việc tỉa sạch. Lý do vì những thói hư tật xấu của con người cũ. Con người hoang dã của bản tính hư hỏng: Ghen tương, thù hận, thành kiến, tự tôn, kiêu ngạo, gian dối, lừa đảo, buông thả, trác táng, vô luân, ích kỷ… Những thói xấu đó làm tắc nghẽn dòng chảy tự do của sức sống Chúa Giêsu trong các linh hồn. Cho nên công việc tẩy sạch là cần thiết và bắt buộc. Cây nho không tỉa cành, chẳng bao giờ đâm bông kết trái. Do đó, đến mùa, người làm vườn phải tỉa sạch các gốc nho quí giá. Người tín hữu cũng vậy, luôn phải sửa mình ngõ hầu có thể phát triển trên con đường thiêng liêng.

Ngay trong lòng Giáo hội cũng cần có việc “tỉa sạch”: Phân chia bè phái, cãi cọ thần học, giáo lý, nghi thức, chữ đỏ, tự ái cục bộ. Đúng ra trong Giáo hội Chúa Kitô không có cấp bậc quyền bính, mà chỉ có phục vụ. “Ai muốn làm lớn trong anh em thì hãy làm đầy tớ mọi người”. Lời Chúa vang vọng khắp các thế kỷ, nhưng cũng khắp các thời đại, luôn có chia rẽ, tranh giành, trù dập… Sức sống của Chúa Giêsu do Thánh Thần điều hành chứ không phải loài người. Nó mang thiên hình vạn trạng khác nhau, chứ không đơn điệu. Không người nào được phép cho mình ưu tiên trong Chúa Giêsu!

Cứ nhìn vào đời sống Giáo hội tiên khởi tức khắc chúng ta nhận thấy sự thật. Ơn Chúa Phục Sinh thúc đẩy họ bung ra. Bão táp không ngăn cản nổi, trái lại còn giúp Giáo hội gieo rắc hạt giống khắp nơi. Họ luôn một lòng một ý, chăm lo cầu nguyện, nghe giáo lý các Tông đồ. Nhưng khi có tranh giành quyền bính, là bắt đầu có chia rẽ bè phái. Sự chi rẽ lớn mạnh khi tranh cãi thần quyền giáo lý trở nên sôi nổi. Cho nên tiến trình tỉa sạch là cần thiết. Đúng lý, sức sống của ơn Chúa Phục Sinh giống như cây nho âm thầm lan rộng, chẳng cần võ khí, không cần tên lửa, máy bay, tàu chiến, xe tăng giúp đỡ. Nó tự lớn mạnh và toả lan. Khi gươm giáo được sử dụng thì liền có những hậu quả thảm khốc.

Danh Thiên Chúa bị chế nhạo ngay trong hàng ngũ các đạo binh Thánh giá. Cờ lệnh, thập tự trên các khiên mộc trở nên dấu hiệu báng bổ Cây Nho đích thật và dịu dàng. Chúng là những cành nho khô, cần được cắt bỏ. Tác giả Luca trong bài đọc 1 gọi Phaolô bằng tên cũ Saulô, cái tên đã làm cho các tín hữu run sợ, thì bây giờ ông đã được tỉa sạch nhờ xem thấy Chúa và nghe Lời Ngài trên đường đi Đamát, ông can đảm rao giảng Danh Chúa Giêsu bằng lời nói và hành động yêu thương của mình. Ông đã thực sự liên kết với sức sống của cây nho.

Tóm lại, đòi hỏi “tỉa sạch” của Tin mừng hôm nay quả hợp lý, quan trọng và tuyệt vời. Nó cần thiết cho mỗi linh hồn, mỗi cộng đoàn tín hữu, tu trì và toàn thể Giáo hội để tiến triển trên con đường nên thánh. Không có “tỉa sạch” thì mọi chương trình, mọi dự phóng đều vô ích. Bởi sự sống cây nho còn bị ngăn cản thì làm sao sinh hoa kết trái? Dương dương tự đắc không phải là thái độ của người theo Chúa Giêsu. Ngược lại, suy gẫm và sửa mình là công việc thường xuyên để khai thông nhựa sống cho tâm hồn, từ đó mới đưa đến mục tiêu. Bí tích thánh thể là phương tiện hiệu quả kết hợp chúng ta với Chúa Giêsu. Hãy đến ăn, uống bánh bởi trời và nước hằng sống, ngõ hầu tăng cường quyết tâm ở lại trong Cây Nho đích thực. Amen. Alleluia.

 

8. Chú giải của Noel Quesson.

Thầy là...

Như Chúa nhật trước, chúng ta sẽ nghe Chúa Giêsu nói Người là ai. Chúng ta chú tâm lắng nghe Chúa Giêsu bắt đầu mạc khải bằng những từ long trọng này: Con người, dân thành Nagiarét, con của Maria... dám dùng tên Chúa "Ta là Đấng Hằng Hữu” để tỏ cho chúng ta biết Ngài là Đấng Tự Hữu.

Cây nho thật.

Đây là một kiểu nói vô cùng táo bạo đối với những thính giả đầu tiên của Chúa Giêsu. Trong toàn bộ Thánh Kinh hình ảnh "Cây nho" tượng trưng cho "dân Israel", bây giờ Chúa Giêsu coi như là một việc đương nhiên, Người tự cho phép mình chiếm chỗ của "cả một dân tộc". Người áp dụng cho chính bản thân Người nhưng gì đã được nói cho Israel. Và Người dám nói rằng chính Người là cây nho đích thật. Cây nho kia chỉ là một phác họa, một chuẩn bị, một "hình ảnh". Dân Israel xưa chỉ là một sự chuẩn bị cho "dân Israel mới" là Giáo Hội, là chính Chúa Giêsu. Và không phải Chúa Giêsu chỉ đưa ra lời khẳng định đáng ngạc nhiên này. Một lần Người đã nói: Người là bánh "đích thực" của sự sống (Ga 6); đối với Maria, Người đã nói Người là Mục Tử "đích thật" (Ga 10) đối lại với những mục tử giả và những kẻ làm thuê.

Vậy thì một lần nữa, con người bình thường, xuất thân từ một làng quê nhỏ bé trong một tỉnh của đế quốc La Mã, con người không quan trọng đó sẽ chịu chết trong vài tuần nữa, bị xã hội loại trừ, bị các môn đệ phản bội và chối bỏ, bị đối thủ khinh khi chế nhạo, bị mọi người bỏ rơi, Con Người đó dám tự cho là trung tâm của thế giới và của lịch sử – Có đúng không? hay Người chỉ là một con người?

Và Cha Thầy là người trồng nho...

Cha của Người là ai? Người đang nói về ai thế? Chúng ta quá quen với những kiểu nói này. Thực ra những kiểu nói trên diễn tả một điều nào đó không bình thường nhưng là một cuộc cách mạng thực sự trong lịch sử những tương quan giữa con người và Thiên Chúa. Dường như Chúa Giêsu đã luôn luôn gọi Thiên Chúa là "Abba", từ ngữ Aramên để gọi "Cha”. Kiểu nói này không phải của một người đàn ông trưởng thành mà là của một con trẻ.

Kiểu nói trìu mến mà thánh Têrêsa Lisieux đã diễn tả Thiên Chúa, “Cha tốt lành của con". Vào thời thượng cổ, trong nền văn chương của Do Thái nói về nghi lễ phụng vụ cũng như về đời sống cá nhân, người ta không tìm được một cách cầu nguyện dùng tiếng "Abba" để nói về Chúa. Vì thế lời nói khác thường và thân thiện này đã gây ra sự khó chịu và nên cớ vấp phạm đối với những người đồng thời của Chúa Giêsu, lời này thường được dùng trong tiếng Aramên bởi những cộng đồng tiên khởi dùng tiếng Hy Lạp (Mc 14,36; Mt 26,39; Lc 22,42; Ga 14,31; Rm 8,15; Gal 4,6).

Vâng, trong toàn bộ Kinh thánh "Người trồng nho" của Israel chính là Thiên Chúa, hình ảnh truyền thống này diễn tả tình yêu của Thiên Chúa đối với dân của người (Gr 2,4; Ed 15,2; Os 10,1; Tv 80,9).

Cành nào gắn liền với thầy mà không sinh hoa trái thì người cắt tỉa cho nó ra nhiều quả hơn.

Sự so sánh của người trồng nho rất thực tế: Mùa đông ông ta cắt bỏ trành khô và đốt, ông tỉa một phần để cô đọng nhựa làm cho sinh nhiều trái hơn. Một cây nho không được cắt tỉa chỉ sinh lá -Những người trồng nho nói rằng: Khi người ta cắt tỉa cây nho cây này "khóc". Trước khi vết cắt được lành, một số nhựa dồi dào chảy ra. Cũng vậy, gặp cơn thử thách lòng chúng ta cũng khóc khi bị đau khổ.

Người nào đã đi thăm một vườn nho vừa được cắt tỉa, sẽ ngạc nhiên về những cành nho bị "hy sinh" để cây nho cho "nhiều quả hơn". Nếu không biết, ta có thể phê bình người trồng nho "Tại sao lại có nhiều đau khổ như thế này trên thế giới". Thưa ông trồng nho, tại sao ông cắt bỏ nhiều cành thế? Tại sao ông làm cây chảy máu? Hãy đợi đến mùa thu hoạch lúc đó anh sẽ hiểu.

Và Chúa Giêsu, cây nho đích thật được Chúa Cha yêu mến đã bị "cắt tỉa" trước tiên. Oi sự cắt tỉa bi thảm thay! ôi; cây thập giá bên ngoài bị tàn phá, nhưng mang lại: "nhiều quả hơn".

Đó là hình ảnh công việc của Thiên Chúa trong Giáo Hội và trong chúng ta, Người tỉa, xén, thanh tẩy. Việc này gây đau khổ, nhưng đây là quy luật của cuộc sống, để cho mùa thu hoạch tốt đẹp hơn.

Nhưng anh em được thanh sạch rồi nhớ lời Thầy đã nói với anh em.

Đáng lẽ ra khi tỉa xén, người tín hữu phải lắng nghe lời Chúa để khám phá được sự phong phú của sự thanh tẩy này. Người nào chấp nhận bị tỉa xén theo gương Chúa Giêsu và kết hợp với Người, người ấy có thể tìm thấy ý nghĩa trong cơn thử thách của mình. “Hãy luôn luôn kết hợp với Thầy như Thầy luôn kết hợp với anh em ". Lời Chúa trên đây làm cho tín hữu khám phá được rằng, đau khổ kết hợp họ với Chúa Giêsu và làm cho họ ở "trong người".

Động từ "ở" sẽ được dùng trong 6 câu sau này. Hình ảnh thật cảm động: Chúng ta có thể "ở” trong Chúa Giêsu, và Người "ở" trong chúng ta, chúng ta kết hợp với Chúa Giêsu như những nhánh trong một cây nho, được tháp nhập vào Người cách sống động: Từ Chúa Kitô đến chúng ta, chỉ có một dòng nhựa lưu chảy, một sự sống duy nhất truyền lan mà thôi.

Chữ "ở" này không chỉ có nghĩa là ở lại, cư ngụ, nhưng là sống ‘với’, đây cũng là một đề tài xuyên suốt Thánh Kinh. Ước vọng lớn nhất của con người là thấy Thiên Chúa ở với dân của Người: "Người đã dựng lều trong trại của chúng ta, giữa những lều du mục của chúng ta". "Người đã xây một nhà trong thành phố chúng ta, giữa những nhà của chúng ta". Nhưng ở đây, Chúa Giêsu còn đi xa hơn: Không chỉ là một sự đối diện mà là "Người này ở nhà người kia". Một mối liên quan mới kết hợp con người với Thiên Chúa, một sự mật thiết hỗ tương. Chúa Giêsu dùng lại kiểu nói xưa của Giao ước: "Các ngươi sẽ là dân của Ta và Ta sẽ là Thiên Chúa của các ngươi".

Nhưng Chúa Giêsu đào sâu hơn bằng cách nói về một sự kết hợp hỗ tương: “Anh em hãy ở trong Thầy như Thầy ở trong anh em". Khi nghe lời này, chúng ta phải nghĩ đến phép Mình Thánh Chúa, Bí Tích tuyệt hảo của giao ước, dưới biểu tượng bánh mà chúng ta dùng hằng ngày. Bí tích này làm cho "Chúa Giêsu hiện diện” trong nội tâm sâu kín nhất của chúng ta. Chúa Giêsu đã dùng cách nói này trong bài diễn văn nói về bánh hằng sống (Ga 6,56): "Kẻ nào ăn thịt Ta và uống Máu Ta sẽ ở trong Ta, và Ta sẽ ở trong người đó". Dựa vào mạc khải này, chúng ta hãy cầu nguyện không ngừng.

Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không kết hợp với Thầy.

Người nói quá đáng chăng: Đòi hỏi quá chăng! Người xác quyết: Kết hợp với Người là một điều cần thiết để được sống. Người cũng nói rằng, kẻ nào không kết hợp với Người thì "đã chết", như cành khô chỉ còn đem vào lửa. Con người không có Thiên Chúa sẽ đi về đâu? Nếu bạn hỏi, đa số người ta sẽ trả lời: Cuộc sống của họ sẽ chấm dứt bằng cái chết và sự hư không. Nhưng chúng ta thấy Chúa Giêsu có một tư tưởng căn bản hơn: Người không nói về tướng lai nhưng nói về hiện tại.

Không có Thầy, anh em không làm được gì. Ai không kết hợp với Thầy thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo, người ta nhặt lấy, ném vào lửa cho nó cháy đi.

Khi nghe, con người có thể khước từ sứ điệp này: Con người được tự do - Nhưng nguy hiểm thay. Con người không thể làm giảm nhẹ Tin Mừng được. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta tự đặt mình lệ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa, và đối với Chúa Giêsu, sự lệ thuộc này giải thoát chúng ta khỏi tất cả những gì ngăn cản chúng ta sống". Kẻ nào khước từ không kết hợp với Chúa Giêsu sẽ có "một cuộc sống" rất tầm thường, cuộc sống của con người hay chết, một cuộc sống mà nếu chúng ta trách Chúa về cuộc sống đó chúng ta sẽ có lỗi (các bạn hãy nhìn xem sự đau khổ vô lý của kiếp người này). Chúa đã không tạo dựng chúng ta để sống "một cuộc sống quá tầm thường" mà cái chết sẽ thắng. Chúa tạo dựng chúng ta để sống "cuộc sống thần linh của Người".

Thầy là Cây nho và anh em là Cành nho. Ai luôn kết hợp với Thầy và Thầy luôn kết hợp với người ấy sinh hoa kết quả dồi dào.

Sinh hoa kết quả: Kiểu nói này được lăp lại 6 lần trong vài dòng. Đó là những gì của Chúa Giêsu đã đề nghị với nhân loại. Thiên Chúa không khinh thường con người. Người không đặt ra một cái bẫy để hại con người khi tạo dựng nên con người. Nếu chúng ta suy nghĩ những lời này cách nghiêm chỉnh, chúng ta sẽ hiểu được sâu hơn là khi chỉ đọc phớt qua, Chúa Giêsu không tự xem mình là "thân cây" nho (như vài bản Tin Mừng đã dịch sai) mà trên cây đó mọc ra những "cành" là chính chúng ta. Người tự ví mình như "Toàn cả Cây nho", mà chúng ta là một phần. Thánh Phaolô, khi suy niệm về hình ảnh cây nho, và về Bí Tích Thánh Thể, sẽ nói rằng chúng ta là "chi thể của Thân mình Chúa Kitô”.

Chúng ta là một phần của Thiên Chúa, một phần của Chúa Giêsu, chúng ta là "con trong Ngôi Con", là những người sống trong Đấng hằng sống duy nhất. Người ta nói rằng tại Nagiarét có một cây nho, mỗi năm sinh ra được từ 350 đến 370 chùm.

Anh em sinh hoa kết quả dồi dào và trở thành môn đệ của Thầy, thì đó là tôn vinh Cha của Thầy.

Thiên Chúa Ngôi Cha là nguyên thủy và chung cuộc của đời sống Cây Nho. Chính Người là người trồng nho, tỉa bớt những cành không sinh quả và cắt xén những cành tươi tốt. Chính Người sẽ vui mừng vào mùa thu hoạch đang được chuẩn bị. Đối với những người có đức tin, đó chính là huyền nhiệm của tình yêu.

 

9. Chú giải của William Barclay.

CÂY NHO THẬT

Như thường lệ, ở đây Chúa Giêsu đang sử dụng các hình ảnh và ý niệm thuộc di sản tôn giáo của dân Do Thái. Nhiều lần Cựu Ước mô tả dân Israel như một gốc nho hay vườn nho của Thiên Chúa. “Vườn nho của Đức Chúa vạn quân, ấy là nhà Israel (Is 5,1-7). Qua Giêrêmia, sứ điệp của Chúa đã truyền đến cho dân Israel rằng: “Ta đã trồng ngươi như cây nho tốt” (Gr 2,21). Êdêkien 15 và 19, 10 cũng ví dân Israel với cây nho. Ôsê 10,1 nói “Israel là một cây nho tươi tốt”.

Tác giả Tv nghĩ về việc Thiên Chúa giải thoát dân Ngài khỏi vòng nô lệ như sau “Gốc nho này Chúa bứng từ Ai Cập” (80,8). Cây nho đã trở thành biểu tượng của dân Israel. Huy hiệu trên các đồng tiền thời Macabêô là cây nho. Một trong những kỳ công chói lọi trong Đền Thờ là cây nho bằng vàng thật lớn đặt trước Nơi Thánh. Nhiều vĩ nhân đã kể mình có vinh dự lớn khi được phép dâng cúng một số vàng để đúc thêm một chùm trái cho cây nho ấy. Cây nho là một trong những hình ảnh đặc trưng của người Do Thái, và là biểu tượng của dân Israel.

Chúa Giêsu tự xưng Ngài là cây nho thật. Từ alethinos, có nghĩa là thật, có thật, đích thực. Điều đáng lưu ý là trong Cựu Ước, biểu tượng cây nho luôn luôn được gắn liền với ý niệm về sự suy thoái. Trong bức tranh của Isaia, vườn nho đã trở thành vườn nho hoang. Giêrêmia than phiền dân tộc ông đã biến thành “một cây nho lạ, thoái hóa thành một cây nho khác”. Ôsê thì kêu lên “Israel là một cây nho trơ trụi”. Dường như Chúa Giêsu muốn nói: “Các ngươi tưởng vì thuộc về dân Israel nên các ngươi là nhánh cây nho thật. Sự kiện “là người Do Thái” không thể cứu ngươi. Điều duy nhất có thể cứu các ngươi là hãy thông hiệp mật thiết và sống động với Ta, hãy tin Ta vì Ta là cây nho của Thiên Chúa, và các ngươi phải là những nhánh được gắn liền vào Ta”. Chúa Giêsu đã xác định không phải là dòng máu Do Thái, nhưng chính đức tin vào Ngài là đường lối cứu rỗi của Thiên Chúa. Không một yếu tố nào có thể giúp con người được hòa thuận với Thiên Chúa mà chỉ có tình thân hữu với Chúa Giêsu Kitô.

Lúc mô tả bức tranh về cây nho. Chúa Giêsu biết rõ điều Ngài đang nói. Cây nho mọc khắp nơi tại Palestine. Muốn thu hoạch được trái tốt, người ta phải hết sức chú ý chăm sóc nó. Nó thường mọc trên những thềm đất nơi cao, nền đất phải sạch sẽ. Có khi người ta trồng thành hàng rào, có khi thả bò sát đất trên ít cành cây, cũng có khi người ta cho nó bò lên cửa những ngôi nhà tranh. Nhưng dù mọc ở đâu, việc cần thiết là phải tỉa thật kỹ. Nó mọc xanh tốt đến nỗi phải chia hàng cách khoảng ít nhất 4m, vì nhánh nho phát triển nhanh. Một cây nho trong ba năm đầu chưa cho trái, mỗi năm, nó phải được tỉa thật sạch để có thể phát triển và giữ được sinh lực. Khi đến độ trưởng thành, người ta cắt tỉa nó vào tháng 12 hoặc tháng 01 dương lịch. Có hai loại nhánh nho, một loại ra trái và một loại không ra trái. Loại nhánh không ra trái phải cắt bỏ, để chúng khong hút hết sinh lực của cây nho. Cây nho sẽ không thể cho trái đúng mức nếu không được cắt tỉa thật kỹ. Chúa Giêsu biết rõ điều đó.

Hơn nữa, gỗ của cây nho chẳng dùng được vào việc gì, vì quá mềm. Luật quy định mỗi năm vài lần, dân chúng phải đem củi dâng lên Đền Thờ để dùng cho các bàn thờ dâng sinh tế, nhưng dứt khoát không được dâng củi nho. Sau khi cắt tỉa cây nho, việc duy nhất có thể làm đối với số nhánh nho đó là đem đốt bỏ. Điều này làm cho bức tranh Chúa vẽ càng thêm ý nghĩa.

Chúa Giêsu bảo những người theo Ngài cũng giống như vậy. Một số người trong họ là những nhánh nho ra trái thật sai, nhưng một số khác thì lại vô dụng vì không ra trái. Khi nói đến điều này, Chúa nghĩ đến ai đây?

Có hai câu trả lời. Một là, Ngài đang nghĩ đến dân Do Thái, họ là nhánh cây nho của Chúa. Đây không phải là hình ảnh mà hết ngôn sứ này đến ngôn sứ khác mô tả sao? Nhưng họ đã không chịu nghe Ngài, không chịu nhận Ngài, do đó, họ chỉ là những nhánh nho khô, vô dụng. Thứ hai, Chúa đang nghĩ một cách tổng quát hơn, Ngài đang nghĩ đến các Kitô hữu mà đạo của họ chỉ là hữu danh vô thực, năng thuyết bất năng thành, có nói mà không làm. Ngài đang nghĩ đến các Kitô hữu vốn là những nhánh vô dụng, toàn lá mà chẳng ra trái. Và Ngài đang nghĩ đến những Kitô hữu đang bội đạo, đã nghe, đã nhận đạo nhưng lại sa ngã, bỏ đạo để trở thành những kẻ phản thầy, phản chủ mà có lần họ đã thề hưá sẽ trung thành phục vụ.

Chúng ta có thể trở thành những nhánh nho vô dụng theo ba cách:

a/ Chúng ta chối từ không nghe theo Chúa Giêsu.

b/ Chúng ta nghe Ngài và phục vụ Ngài bằng đầu môi chót lưỡi chứ không có hành động cụ thể.

c/ Chúng ta có thể nhận Ngài làm Thầy và làm Chủ, nhưng sau đó khi gặp khó khăn trên đường đời hay khi bị dục vọng lôi cuốn thì từ bỏ Ngài. Nên nhớ nguyên tắc đầu tiên của Tân Ước là vô dụng dẫn đến tiêu diệt. Nhánh nho vô dụng đang trên đường đến chỗ tiêu huỷ.

Đoạn này nói đến việc ở trong Chúa Kitô. Điều đó có nghĩa gì? Kitô hữu ở trong Chúa và Chúa ở trong Kitô hữu mang một ý nghĩa rất huyền nhiệm. Nhưng nhiều người –có lẽ là đa số nữa- chẳng bao giờ có được kinh nghiệm này.

Chúng ta có thể lấy một hình ảnh thông thường để so sánh. Dù mọi lối so sánh đều bất toàn, nhưng chúng ta đành phải dùng những ý niệm mình có. Thí dụ có một người yếu đuối sa vào cám dỗ, đã làm hỏng chuyện, đang trên đà suy thoái tinh thần, trí óc và đạo đức. Người ấy có một bạn thân có bản lãnh mạnh mẽ, đáng mến, đầy lòng yêu thương, cứu anh ta khỏi tình trạng suy thoái kia. Chỉ có phương pháp duy nhất để người yếu đuối kia có thể duy trì tình trạng phục hồi của mình và giữ mình trên con đường tốt, là anh phải giữ liên hệ với người bạn kia. Nếu mất đi sợi dây liên lạc thì sự yếu đuối của anh lại gặp nhiều cơ hội, những cám dỗ cũ xuất hiện và anh lại sa ngã. Lối thoát của anh nằm trong mối liên lạc liên tục với sức mạnh của bạn mình.

Khi một người hư hỏng được để sống chung với một người tử tế đứng đắn, bao lâu người ấy còn ở trong ngôi nhà tử tế đứng đắn kia thì còn được an toàn. Nhưng nếu người ấy rời bỏ nhà đó, đi theo ý riêng, sống tách biệt người bạn tốt, thế nào cũng sẽ sa ngã lại. Chúng ta phải giữ liên lạc với cái tốt để đánh bại cái xấu. Robertson ở Brighton là một trong những nhà truyền giáo lỗi lạc. Có một nhà buôn mở cửa hiệu, ông để trongn phòng phía sau cửa hiệu một bức ảnh của Robertson, ông xem Robertson như người anh hùng gương mẫu của mình. Khi bị cám dỗ làm chuyện xấu, thương gia này chạy vội về phòng sau, nhìn vào bức ảnh của Robertson, ông thắng được cám dỗ đó. Có người hỏi Kingsley bí quyết thành công trong cuộc sống của ông, ông nhắc đến F. D. Maurice và bảo: “Tôi có một người bạn thân”. Tiếp xúc, liên hệ với người tốt đã khiến ông thành người tốt. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.

Ở trong Chúa Kitô cũng giống như vậy. Bí quyết của đời sống Chúa Giêsu là Ngài luôn tiếp xúc, liên hệ với Thiên Chúa Cha. Nhiều lần Ngài lui vào nơi vắng vẻ để gặp Thiên Chúa Cha. Chúa Giêsu luôn luôn ở trong Thiên Chúa Cha. Giữa chúng ta và Chúa Giêsu cũng phải như vậy, chúng ta phải giữ mối liên hệ tiếp xúc với Ngài luôn. Chúng ta sẽ không đạt được điều đó, nếu không quyết tâm thực hiện.

Thí dụ như việc cầu nguyện lúc sáng sớm, dù ngắn ngủi, nhưng cầu nguyện như chất thuốc sát trùng cho suốt một ngày, vì làm như thế, chúng ta không thể nào ra khỏi sự hiện diện của Chúa Giêsu để chạm vào điều xấu. Với một số ít người trong chúng ta, có thể việc ở trong Chúa Giêsu là một kinh nghiệm, không thể diễn tả bằng lời. Với phần đông chúng ta, điều đó có nghĩa là tiếp xúc thường xuyên với Chúa Giêsu, có nghĩa là thu xếp làm sao cho đời sống, giờ cầu nguyện, và cả những lúc phải yên lặng, để không giây phút nào chúng ta có thể quên Ngài.

Cuối cùng, chúng ta cần ghi nhận hai điều liên hệ đến một môn đệ tốt. Một, người ấy làm cho đời sống mình được phong phú. Sự tiếp xúc với Chúa Giêsu làm cho người ấy trở thành một nhánh nho nhiều trái. Thứ hai, người ấy làm vinh danh Chúa.Nhìn vào đời sống đó, người ta nghĩ đến Thiên Chúa, Đấng đã làm cho người đó trở thành người như vậy. Thiên Chúa được tôn vinh khi chúng ta kết nhiều quả và khi chúng ta chứng tỏ mình là môn đệ của Chúa Giêsu. Chắc chắn, vinh quang lớn nhất cho Kitô hữu là bởi đời sống và cách ăn nết ở của mình, đó là chúng ta tôn vinh Chúa.

Các bài mới
Các bài đã đăng