Suy niệm Lời Chúa
CÁC BÀI SUY NIỆM CHÚA NHẬT II PHỤC SINH Năm B
Đăng lúc: 10:58 | 05/04/2018
Lượt xem: 167
Lòng thương xót của Chúa vẫn đang được ban tặng cho chúng ta nơi Bí Tích Giải Tội. Nơi đây, chúng ta được cảm nhận, được đụng chạm đến trái tim yêu thương và sự tha thứ của Chúa. Cũng chính nơi Bí Tích Giải Tội, chúng ta đón nhận được ơn bình an của Chúa Giêsu phục sinh, ơn mà Ngài đã ban cho các tông đồ, khiến tâm hồn các ông được tái sinh, đổi mới...
CÁC BÀI SUY NIỆM CHÚA NHẬT II PHỤC SINH Năm B

CÁC BÀI SUY NIỆM CHÚA NHẬT II PHỤC SINH Năm B

CHÚA NHẬT LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT 

Ga 20, 19 – 31

 

1. PHÚC CHO AI KHÔNG THẤY MÀ TIN

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

Trong xã hội hiện đại hôm nay, việc kể lại một người đã chết ba ngày rồi sống lại sẽ bị coi là chuyện cổ tích hay ảo tưởng. Tuy vậy, sự kiện Chúa phục sinh từ cõi chết là sự kiện lịch sử và là nền tảng đức tin cho các Kitô hữu. Hai ngàn năm sau cái chết của Chúa Giêsu, có nhiều người xác tín vào sự phục sinh của Chúa, nhưng vẫn có những người phủ nhận sự sống lại của Người. Người ta dựa vào những chứng lý của khoa học và dựa vào kinh nghiệm đời thường để không tin Chúa đã sống lại. Đối với chúng ta là Kitô hữu, dựa trên lời Chúa: “Phúc cho ai không thấy mà tin”, chúng ta tuyên xưng vững vàng Đức Giêsu “ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại“. Quả vậy, trước một vấn đề mà con mắt thể lý chúng ta không nhìn thấy, chúng ta cần có đức tin. Vì nếu nhìn thấy rồi, thì đâu cần tin nữa. Chấp nhận tin như thế được Chúa tuyên bố là người có phúc.

Tin vào Chúa phục sinh không phải là ảo tưởng và mù quáng. Bởi lẽ Thiên Chúa là Đấng quyền năng, từ hư vô Ngài đã dựng nên trời đất, con người và muôn vật. Nếu ở khởi đầu của lịch sử, Chúa đã lấy bùn đất mà nắn thành con người, thì nay, Chúa Cha đã cho Con của Ngài từ cõi chết sống lại là điều dễ dàng và có thể hiều được. Nhiều người phủ nhận Chúa phục sinh, bởi họ chỉ dựa trên lý luận theo kiểu của con người, mà không tin rằng Chúa quyền năng có thể làm mọi sự. Đối với Ngài, mọi sự đều có thể.

Tôma, một trong mười hai tông đồ, là người đã lý luận theo kiểu con người. Ông đòi phải có những điều kiện này nọ mới tin. Nói cách khác, ông chỉ tin vào những gì ông nhìn thấy. Đây là một cách lý luận nơi nhiều người, do ảnh hưởng thuyết duy vật hôm nay. Họ chỉ tin vào vật chất và phủ nhận những thực tại thiêng liêng. Đối với họ, những gì liên quan đến thế giới siêu hình đều bị coi những điều nhảm nhí, chỉ dành cho một số người lạc hậu và dân trí thấp. Vẫn còn đó xung quanh chúng ta những Tôma, tức là những người hoài nghi sự hiện hữu của Thiên Chúa và chỉ tin vào những gì mà họ kiểm chứng bằng giác quan.

Chúa Giêsu đã đáp trả những thách thức của Tôma. Tám ngày sau, cũng vào ngày thứ nhất trong tuần, Người đã hiện đến với các tông đồ, cùng với những thương tích trên thân thể Người. Trước đó, Tôma đã ra điều kiện để tin, như tận mắt thấy những vết thương của Chúa, thì nay Người đã cho ông thấy rõ ràng. Ông chẳng còn lòng dạ nào mà xỏ ngón tay vào lỗ đinh, đặt bàn tay vào cạnh sườn Chúa. Đúng hơn, ông chẳng cần làm những điều đó, vì Chúa đang ở trước mặt ông bằng xương bằng thịt và đang nói với ông: “Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”.

Qua lời nói với Tôma, Chúa Giêsu phục sinh muốn gửi đến cho chúng ta một thông điệp: “Phúc thay những người không thấy mà tin”. Thông điệp ấy vẫn có giá trị đến ngày hôm nay. Là những tín hữu, chưa ai trong chúng ta được thấy Chúa trực tiếp. Chúng ta chỉ cảm nhận Chúa bằng Đức tin. Con tim và lý trí mách bảo chúng ta Chúa đang hiện diện và những ai tin vào Người thì sẽ không phải thất vọng. “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”. Tôma không còn biết nói gì khác hơn là một lời tuyên xưng quyền năng của Thiên Chúa với niềm xác tín nơi Ngài. Đó là lời tuyên xưng Đức tin của một người đã hoàn toàn bị chinh phục. Đó cũng là tâm tình sám hối của một người đã chậm tin những chứng từ của anh em mình.

Ngày hôm nay, xung quanh ta, Chúa Giêsu vẫn hiện diện với những thương tích do cuộc khổ nạn thập giá. Đó không còn phải là một con người mang dấu đinh và vết thương ở cạnh sườn, nhưng đó là những anh chị em đang bầm dập vì cuộc sống đầy gian nan thử thách. Cộng đoàn tín hữu tiên khởi đã sớm nhận ra Chúa hiện diện trong Giáo Hội và nơi những người nghèo. Vì thế mà họ chuyên cần cầu nguyện, hăng hái chia sẻ và quan tâm đến những người bất hạnh. Chính Đấng Phục sinh đã dạy họ thực thi những điều đó, và liên kết họ trong tình bác ái thân thương, để rồi, qua những nghĩa cử bác ái đó, họ càng nhận ra sự hiện diện của Chúa một cách cụ thể hơn (Bài đọc I). Thánh Gioan tông đồ đã quảng diễn tình yêu dành cho Chúa và đức bác ái dành cho tha nhân đi song song với nhau không thể tách rời. Hơn thế nữa, những ai tin vào Chúa và thực thi lời dạy của Người sẽ chiến thắng thế gian và sẽ được an bình giữa biển cả ba đào đầy gian nguy thử thách (Bài đọc II).

Tin vào Chúa phục sinh được kể là người có phúc. Đó là phần thưởng cho người tin. Trong chúng ta, chưa ai nhìn thấy Chúa Phục sinh như ông Tôma và các tông đồ, nhưng chúng ta tin chắc điều đó, vì Chúa là Đấng có thể làm được mọi sự. Nhờ niềm xác tín này, chúng ta được chúc phúc, giống như Đức Trinh nữ Maria, qua lời chào của bà Elisabeth: “Em thật có phúc vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1, 45). “Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”. Chúa Giêsu Phục sinh đang nói điều đó với tôi, với bạn và với cả thế giới hôm nay.

“Tất cả những gì không thể hiểu được, ít nhằm để người ta không hiểu được cho bằng để người ta hiểu nhiều hơn” (Blaise Pascal).

“Đức tin là sự tin tưởng sống động và táo bạo vào ơn Chúa, chắc chắn và vững bền tới mức một người có thể cược cả đời mình cho nó hàng nghìn lần” (Sưu tầm).

 

2. GẶP GỠ ĐỨC KITÔ PHỤC SINH

Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

Trong suốt tuần Bát Nhật, từ đêm vọng Phục sinh tới hôm nay, Chúa nhật 2 Phục sinh, các bài đọc đã trình bày cho ta nhiều lần Đức Kitô phục sinh hiện ra. Từ những lần thấy Đức Kitô phục sinh hiện ra ấy, các môn đệ đã có những cảm nghiệm sau đây:

1. Cảm nghiệm đầu tiên là, Đức Kitô đồng hành với họ trên mọi nẻo đường.

Đức Kitô phục sinh không còn bị giới hạn trong không gian. Người có thể cùng lúc xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau. Ngươì xuất hiện trong vườn, gần mồ chôn Người. Người xuất hiện bên bờ hồ, nơi các môn đệ đang chài lưới. Người xuất hiện ở làng Emmau, cách Giêrusalem một quãng đường dài. Người xuất hiện trong phòng đóng kín cửa, nơi các môn đệ tụ họp. Sau này, Người còn xuất hiện ở mãi tận Damas, bên nước Syrira, nơi Phaolô lùng bắt người theo đạo. Không gian xa xôi không làm chậm bước Ngài. Không gian khép kín không ngăn được bước Ngài. Đức Kitô phục sinh ra khỏi mồ có mặt trên mọi nẻo đường của cuộc sống.

Đức Kitô phục sinh cũng không bị giới hạn trong thời gian. Người xuất hiện với Maria khi trời còn đẫm sương khuya. Người xuất hiện bên bờ hồ với các môn đệ khi bình minh vừa ló rạng. Người xuất hiện trong phòng tiệc ly ngay giữa ban ngày. Người xuất hiện ở Emmau khi trời sụp tối. Trong mọi lúc của cuộc đời, Đức Kitô luôn có mặt. Không có thời gian nào Người không ở bên ta.

Đức Kitô phục sinh không còn bị giới hạn, trong một cảnh ngộ cuộc sống nhất định. Trong vườn, Người xuất hiện như người làm vườn.. Bên những người chài lưới, Người xuất hiện như một bạn chài chuyên nghiệp, rành rẽ đường đi của đàn cá. Trên đường Emmau, Người xuất hiện như một khách hành hương, đồng hành với hai linh hồn buồn bã, e ngại đường xa. Người xuất hiện để khích lệ các môn đệ đang lo buồn sợ hãi. Người xuất hiện để soi chiếu niềm nghi ngờ tăm tối của Tôma.

2. Cảm nghiệm thứ hai là, Đức Kitô phục sinh khơi dây niềm bình an, tin tưởng.

Biết các môn đệ đang buồn sầu, bối rối, bấn loạn sau cái chết của Thầy, Đức Kitô phục sinh mỗi lần hiện ra, đều chúc các ông: “Bình an cho các con”. Người còn thổi hơi vào các ông và nói: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần”.

Cử chỉ thổi hơi nhắc cho ta nhớ lại việc sáng tạo. Khi ấy vũ trụ còn là một khối hỗn mang, vô định hình. Rồi Thần Linh Chúa bay là là trên mặt nước. Nhờ đó mọi vật dần dần có hình hài vóc dáng, đi vào trật tự, ổn định.

Sau cuộc khổ nạn của Đức Kitô, tâm hồn các môn đệ cũng tan nát như một khối hỗn mang, vô định hình. Đức Kitô thổi hơi ban Thánh Thần trong một tạo dựng mới, đem lại trật tự ổn định, uốn nắn các môn đệ thành những con người mới, tràn đầy bình an của Chúa Thánh Thần. Sau khi gặp Đức Kitô phục sinh, Maria buồn bã trở nên vui tươi, hai môn đệ Emmau u sầu tuyệt vọng trở nên phấn khởi, các môn đệ chài lưới mệt mỏi rã rời được hồi phục sức lực, các môn đệ sợ sệt bối rối ẩn núp trong phòng được bình an, Tôma nghi nan bối rối được vững niềm tin mến. Đức Kitô phục sinh chính là niềm bình an cho các ông.

3. Cảm nghiệm thứ ba, cũng là cảm nghiệm quan trọng nhất, Đức Giêsu phục sinh làm cho cuộc đời có ý nghĩa.

Sau khi Đức Kitô bị hành hình, cả một bầu trời sụp đổ. Các môn đệ tuyệt vọng. Họ sống trong lo sợ, buồn bã, chán chường. Không, họ không còn sống nữa vì cuộc đời đối với họ chẳng còn ý nghĩa gì. Họ như đã chết với Thầy. Chỉ còn nỗi lo sợ, nỗi buồn, niềm tuyệt vọng sống trong họ thôi. Đức Kitô là linh hồn của họ. Linh hồn đã ra đi. Xác sống sao được.

Khi Đức Kitô phục sinh trở lại, những xác chết bỗng hồi sinh, những bộ xương khô bỗng chỗi dậy, mặc lấy da thịt, trở lại kiếp người, những trái tim nguội lạnh trở lại nhịp đập, ánh mắt nụ cười lại rạng rỡ tươi vui, vì cuộc sống từ nay có một linh hồn, cuộc sống từ nay có một ý nghĩa.

4. Cảm nghiệm cuối cùng là, Đức Kitô phục sinh sai họ đi loan báo Tin Mừng Phục sinh.

Đức Giêsu Phục sinh đã biến đổi toàn bộ cuộc đời các môn đệ. Đức Kitô phục sinh là Tin Mừng lớn lao trọng đại đem lại ý nghĩa cho cuộc đời. Nên các môn đệ không thể không loan báo Tin Mừng lớn lao đó. Maria lập tức chạy về loan tin cho các môn đệ, mời Phêrô và Gioan đến xem ngôi mộ trống. Hai môn đệ Emmau lập tức trở về Giêrusalem bất chấp trời đã tối đen. Phêrô chạy bay ra mồ dù còn sáng sớm và còn bị nỗi sợ người Do Thái ám ảnh. Và sau này, Phaolô, sau khi ngã ngựa, đã trở thành một người loan báo Tin Mừng không biết mệt mỏi.

Hôm nay chính Đức Kitô Phục Sinh nói với các ông: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”.

Tất cả những người đã thấy Đức Giêsu Phục Sinh đều trở thành những sứ giả loan báo Tin Mừng Phục Sinh. Tất cả các môn đệ đều đã lấy máu mình mà làm chứng cho lời rao giảng. Vì Đức Kitô phục sinh là một Tin Mừng không thể không chia sẻ. Vì lệnh sai đi của Đức Kitô là một lệnh truyền không thể chống cưỡng. Như Thánh Phaolô sau này đã nói: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”.

Hôm nay Đức Giêsu Phục Sinh cũng đang hiện diện bên ta. Người luôn ở bên ta trong mọi thời gian. Từ buổi bình minh khi ta mới chào đời cho đến lúc mặt trời chói lọi của tuổi thanh niên. Từ lúc xế chiều của đời xế bóng cho đến lúc bóng đêm tuổi già phủ xuống đời ta.

Người vẫn ở bên ta trong mọi không gian: trong nhà thờ, nơi trường học, ở sở làm, nơi giải trí, trong gia đình, trong chòm xóm.

Người vẫn ở bên ta trong mọi cảnh ngộ vui buồn của cuộc đời. Người ở bên em bé mồ côi đang khóc đòi vú me. Người ở bên em học sinh đang miệt mài đèn sách. Người ở bên cô thiếu nữ đau buồn vì bị tình phụ. Người ở bên chàng thanh niên lạc hướng giữa ngã ba đường. Người ở bên ngững cuộc đời bế tắc không lối thoát.

Chỉ cần quay đầu, dừng bước là gặp được Người. Hãy khao khát đón chờ Người. Hãy tỉnh thức lắng nghe tiếng bước chân Người. Bước chân Người rất nhẹ nhàng, không ồn ào. Đừng bỏ lỡ cơ hội gặp Người.

Gặp được Người, lòng ta sẽ bình an, linh hồn ta sẽ hồi sinh, cuộc đời ta sẽ sống, sống mãnh liệt, sống phong phú, sống dồi dào.

Lạy Đức Kitô Phục Sinh, con đang chìm trong cái chết dần mòn. Xin hãy đến và cho con được Phục Sinh với Người.

 

3. LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA TỒN TẠI ĐẾN MUÔN ĐỜI

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa được tiếp liền sau Đại Lễ Phục Sinh, Phụng vụ Giáo hội mời gọi chúng ta cách đặc biệt, kể từ ngày 22 tháng Tư năm 2001 là sùng kính Lòng Thương Xót Chúa. Chính thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II muốn đáp lại ý muốn của Thiên Chúa cách minh nhiên được truyền lại cho vị thánh đồng hương của mình là Faustina Kowalska sứ điệp về lòng thương xót Chúa đối với thế giới là vô cùng vô hạn. Chúng ta cùng nhau thực hành lời khuyên của Chúa, để nhận được ơn tha thứ tội lỗi và mọi hình phạt, do đó, trong lời Ca nhập lễ hôm nay : Như những trẻ sơ sinh, anh em hãy khao khát sữa thiêng liêng tinh khiết, nhờ đó anh em sẽ lớn lên để hưởng ơn cứu độ. Allêluia”.

Tin Mừng chung cho cả ba năm Phụng vụ A,B,C được trích từ Phúc Âm theo Thánh Gioan (20, 19-31 ), tường thuật lại sự kiện Đức Giêsu phục sinh hiện ra gặp gỡ các tông đồ thật là cảm động. Cử chỉ trao ban bình an của Chúa cho các môn đệ, biến các ông từ những người đang lo sợ và kinh ngạc, trở nên những tác viên của Lòng Chúa Thương Xót. Chúa đưa đôi tay và cạnh sườn còn in những dấu tích của cuộc thương khó và nói với các ông : Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”. Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại” ( Ga 20, 21- 23).

Chúa Giêsu trao phó cho các ông hồng ân “tha thứ các tội lỗi” diễn tả lòng xót thương vô bờ của Thiên Chúa đối với nhân loại, hồng ân này phát sinh từ những vết thương của đôi tay, đôi chân và nhất là của cạnh sườn Chúa bị đâm thâu qua. Đó là những vết thương hằn in trên cơ thể của Người lúc còn sống, ngay cả sau khi Phục Sinh. Những vết thương vinh quang, mà Tôma đã tận mắt chứng kiến tám ngày sau, thật không thể nào hiểu nổi và tin được lòng thương xót của Thiên Chúa : Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài” (Ga 3, 16). Từ đó, một làn sóng tình thương nhân từ đổ xuống trên toàn thế giới.

Chúa Kitô Phục Sinh đã ban tặng cho nhân loại hồng ân tha thứ, những con người lầm lạc đang bị thống trị bởi quyền lực sự dữ, của ích kỷ và sợ hãi, tình yêu của Thiên Chúa tha thứ tất cả, hòa giải tất cả và tái tạo tâm hồn, mang lại cho chúng nhân niềm hy vọng . Đó là tình yêu có sức biến đổi con tim và ban tặng bình an. Thế giới ngày nay cần thiết biết bao lòng thương xót của ThiênChúa!

Hôm nay, Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa chúng ta cùng nhau lặp lại câu Thánh Vịnh mà suốt cả tuần Bát Nhật Phục Sinh toàn thế giới ca vang : “Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thủa” (Tv 117, 1). Quả thật : “Tình thương Chúa tồn tại muôn đời!. Cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô đã thay đổi tận căn số phận của nhân loại nói chung và mỗi người chúng ta nói riêng. Ðây là điều kỳ diệu trong đó được thể hiện trọn vẹn tình yêu thương xót của Thiên Chúa Cha, một tình yêu không ai hiểu thấu, Ðấng vì phần rỗi chúng ta, và để cứu chúng ta, Chúa đã nộp chính Con yêu.

Chúa Giêsu Kitô bị hành hạ và chịu đau khổ vì xót thương chúng ta, thật quá mọi mức độ có thể tưởng nghĩ được. Cả sau biến cố Phục Sinh của Con Thiên Chúa, Thập Giá nói lên và không ngừng nói về Thiên Chúa là Cha, Ðấng tuyệt đối trung thành với tình thương muôn đời của Ngài đối với con nguời. Tin vào tình thương này có nghĩa là tin vào lòng nhân từ của Thiên Chúa”( Dives in misericordia, số 7).

Hãy cảm tạ Chúa vì Chúa hảo tâm, một tình thương mạnh hơn sự chết và tội lỗi. Giờ đây, nhân loại vẫn đang tiếp tục được thừa hưởng tình thương và sự tha thứ của Thiên Chúa đổ ra từ những vết thương vinh hiển và từ trái tim của Chúa, nguồn mạch không bao giờ cạn.

Trái Tim của Chúa Kitô đã trao ban tất cả cho con người: sự cứu chuộc, ơn cứu rỗi, sự thánh hóa. Từ Trái Tim Chúa tuôn tràn sự dịu dàng, thánh nữ Faustina Kowalska thấy xuất phát ra hai tia sáng chiếu tỏa thế gian. Theo lời Chúa giải thích cho thánh nữ, “Hai tia sáng nầy tượng trưng cho máu và nước”. Máu nhắc lại hy tế trên đồi Golgotha và mầu nhiệm Thánh Thể; còn nước, theo hình ảnh phong phú của thánh sử Gioan, làm cho ta nghĩ đến bí tích Rửa Tội và hồng ân Chúa Thánh Thần (x. Ga 3, 5; 4, 14).

Lời kinh chúng ta vẫn đọc: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa”, diễn tả đúng thái độ mà chúng ta muốn có, để chúng ta đặt niềm tin tưởng và phó thác tuyệt đối vào tay Thiên Chúa, Ðấng cứu rỗi duy nhất của chúng ta ! Những tia sáng của lòng nhân từ Chúa ban lại niềm hy vọng, một cách đặc biệt, cho những ai cảm thấy mình bị đè bẹp dưới gánh nặng của tội lỗi.

Chúa Nhật Kính Lòng Chúa Thương Xót do chính thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II thiết lập. Ngài mất vào đúng vọng ngày Kính Lòng Chúa Thương Xót năm 2005. Ngài được tuyên phong hiển thánh đúng Đại Lễ này, ngài quả là vị thánh của Lòng Xót Thương. Cùng với thánh Giáo hoàng Gioan XXIII nhân hậu hay tỏ lòng thương xót đối với mọi người, phần nào diễn tả thái độ nội tâm của ngài trước Thiên Chúa giàu lòng nhân hậu và hay thương xót.

Lạy Chúa, nhờ sự chết và sự sống lại của Chúa, Chúa đã mạc khải tình yêu của Thiên Chúa Cha cho chúng con, chúng con tin thác vào Chúa, chúng con lặp lại ngay lúc này với xác tín rằng: Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa, xin thương xót chúng con và thế giới.

Lạy Mẹ maria, Mẹ của lòng nhân từ hay thương xót, xin giúp chúng con là con cái Mẹ duy trì lòng tin vào Con Mẹ, Ðấng cứu chuộc chúng con. Lạy thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II và thánh nữ Faustina, chúng con nhớ đến với hết lòng mộ mến, xin trợ giúp chúng con. Xin cho chúng con được cùng với các thánh, hướng nhìn về Ðấng Cứu Chuộc, và lặp lại lời nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa”, bây giờ và mãi mãi. Amen.

 

4. GẶP CHÚA TRONG TÂM HỒN

Bông hồng nhỏ

Dòng sông lững lờ trôi. Những cánh bèo trôi dạt từng đám, lênh đênh. Nhìn dòng sông ta nghĩ đến dòng đời trôi chảy. Dòng sông cuộc đời cần lắm những thương yêu, cần lắm những dưỡng nuôi, bao bọc của mọi người. Đời ta lênh đênh trong nhọc nhằn vất vả hay êm ấm trong hạnh phúc? Có khúc sông êm đềm chảy, hiền lành cho ta soi bóng mỗi buổi hoàng hôn. Nhưng cũng có khúc sông chảy xiết, con nước dữ tợn, xoáy sâu và sẵn sàng nhận chìm những gì trôi qua nó. Dù ở khúc sông nào, ta cũng sẽ trải nghiệm những hương vị của tình người. Cách ta cảm nếm và đón nhận những hương vị khác nhau ấy trở thành những kinh nghiệm cho ta sống cuộc đời hạnh phúc.

Cũng như bao cuộc đời khác, cuộc đời của tông đồ Tôma cũng đã êm đềm trôi trong vị ngọt của tình yêu, là thành công, là tiếng thơm khi trở thành môn đệ của Thầy Giêsu, người Thầy mà bao tâm hồn luôn mong ngóng đợi chờ. Ông đã rất hạnh phúc khi theo Thầy. Ông cũng đã đặt trọn niềm tin tưởng nơi Thầy. Một niềm tin như những người môn đệ khác, đó là Thầy sẽ mang lại hạnh phúc, sẽ giải thoát dân tộc, là Đấng Mêsia mà ông và cả dân tộc mong đợi. Ba năm theo Thầy, cũng chia sẻ phút giây vinh quang khi Thầy được ca tụng, cũng chịu đói khát khi Thầy trò lỡ đường và chấp nhận trở thành vô gia cư.

Con sông cuộc đời bây giờ không còn là tháng ngày êm đềm nhưng chảy xiết với bao nguy hiểm cận kề. Bởi, Thầy tự nguyện đi vào chỗ chết, mặc cho anh cả Phêrô can ngăn, dĩ nhiên chính ông Tôma cũng không muốn phải đi vào con đường đầy nguy hiểm ấy. Ông bị vỡ mộng khi Thầy bị bắt, bị đóng đinh cách nhục nhã trên đồi Sọ. Thầy chết thật rồi, ông cũng rơi vào nỗi hoang mang, sợ hãi như các anh em khác. Rất có thể, đối tượng mà giới lãnh đạo Do Thái nhắm đến để tiêu diệt tiếp theo là một trong số các ông, có thể là từng người và cũng có thể là tất cả cùng một lúc.

Có lẽ, chính nỗi sợ ấy đã khiến ông tách riêng ra chăng? Ông đã không ở với các anh em sau khi Thầy hiện ra. Tụ tập một chỗ thì nguy hiểm sẽ cao hơn hay nương tựa vào nhau sẽ an toàn hơn? Ông đã không có mặt khi Thầy hiện ra vì thế khi nghe các anh em khác báo tin vui “Chúng tôi đã được thấy Thầy”, ông không tin. Ông đòi phải được chạm đến Thầy, được thấy tận mắt chứ chỉ nghe nói thôi thì chưa đủ. “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20, 25). Chính ngay lúc này, lòng ông không có sự bình an của Thầy, không có niềm vui Chúa sống lại.

Tám ngày sau, các môn đệ tụ họp và ông cũng có mặt. Chúa Giêsu hiện ra chúc bình an cho các ông và Ngài tỏ lòng thương xót đến môn đệ Tôma. Chúa biết rõ điều ông đòi hỏi khi muốn xác thực Thầy đã sống lại thật nên vừa khi chúc bình an cho các môn đệ, Chúa đã nói với ông “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy, đừng cứng lòng nữa nhưng hãy tin” (Ga 20, 27 ). Ông sấp mình xuống mà tuyên xưng rằng “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (Ga 20, 28). Không cần phải chạm đến nữa vì chính mắt ông đã thấy và tai ông đã nghe Thầy nói đây. Bây giờ, không gì có thể lay chuyển niềm tin ông đặt trọn nơi Chúa. Bây giờ, lòng ông tràn ngập bình an vì chính thầy đang ở với ông. Tông đồ Tôma đã tuyên xưng Thầy là Con Thiên Chúa khi trải qua kinh nghiệm được Thầy yêu thương cách đặc biệt. Từ đây, các môn đệ đều vững lòng trông cậy Chúa và ra đi loan Tin Mừng bằng một niềm tin vững vàng và một con tim rực lửa yêu mến.

Lạy Chúa! Cuộc sống của con luôn cần đến những trải nghiệm của chính mình chứ không phải chỉ nghe người khác nói. Xin cho con mỗi ngày biết cùng với chị em gặp gỡ Chúa vì chính nơi cộng đoàn, con có được kinh nghiệm yêu thương. Xin cho con nhạy bén với sự hiện diện của Chúa, cảm nếm tình yêu của Chúa từ những điều bé nhỏ hằng ngày nơi chính tâm hồn con. Amen.

 

5. TIN ĐỂ THẤY

Anna Cỏ May

Mỗi ngày sống của chúng ta là hỗn hợp nhiều hương vị và màu sắc. Có những điều hay điều dở, điều thánh thiện và tội lỗi, nhưng trong bản thân mỗi người luôn hướng về điều tốt hơn điều xấu, sự thiện hơn là tội lỗi. Cũng như khi phạm tội, chúng ta thường mong được tha thứ, được xót thương từ Thiên Chúa và mọi người xung quanh. Chúng ta thường dễ tha thứ cho người có lòng khát khao và ăn năn sám hối hơn là tha thứ cho một người cứng lòng, đa nghi. Thế nhưng, khác với quan điểm chúng ta, Chúa Giêsu đã thể hiện tình thương của Ngài cách trọn vẹn nơi chính người môn đệ của mình.

Suy gẫm Lời Chúa mỗi ngày, chúng ta sẽ thấy được lòng Chúa xót thương qua những con người cụ thể như ông Ladarô, những người mù, những người bị quỷ ám,… Chúa xót thương dân chúng đã xúc phạm đến Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34). Chúa xót thương người trộm lành “Quả thật, Ta bảo ngươi, hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta” (Lc 23, 42).  Ngay khi Chúa sống lại, Chúa đã hiện ra với môn đệ, đặc biệt là Chúa đã tỏ tình thương cho Tôma, người môn đệ kém lòng tin.

Chúng ta thường nghe nói rằng “Thấy nhưng vẫn chưa tin hoặc không thấy thì sao mà tin được”. Môn đệ Tôma là một trong những người có lối suy nghĩ ấy. Ông đã từng được ở với Chúa Giêsu, được chứng kiến sự hiện diện của Thầy. Chúa đã chết thật rồi và điều đó đã khiến ông quả quyết“Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20, 25). Ông tỏ ra dứt khoát và đòi hỏi phải có chứng cớ, phải được sờ thấy ông mới tin. Ông khác với những người bệnh đã được Chúa cứu chữa. Họ luôn khắc khoải, khát khao được Chúa chữa lành.

Bởi vậy, họ mong chờ từng ngày và nghe ngóng Chúa Giêsu ở đâu để đến gặp. Người phụ nữ bị băng huyết lâu năm đã được khỏi nhờ tin rằng chỉ cần sờ vào tua áo của Chúa Giêsu. Bà không cần gặp hay nói chuyện gì cả nhưng chỉ với lòng tin vào Chúa thôi. Ông Tôma đã cứng lòng tin nhưng Chúa đã dùng lòng xót thương mà tỏ mình cho ông, để đánh tan thái độ cứng lòng tin ấy. “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy, đừng cứng lòng nữa nhưng hãy tin” (Ga 20, 27). Ông sấp mình xuống mà tuyên xưng rằng “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (Ga 20, 28). Được thấy Thầy, tâm hồn ông rực lên niềm tin tưởng mãnh liệt về Thiên tính của Đấng phục sinh. Chúa vẫn sẽ ở mãi với con người và hằng chúc phúc cho những ai không thấy mà tin.

Lòng xót thương của Chúa là thế đó, dành cho tất cả mọi người và luôn bao la. Chúa muốn con người có lòng khao khát tìm kiếm và bằng một lòng tin vững mạnh. Vậy lòng thương xót của Chúa được thể hiện ở đâu? Thật sự, mỗi người sẽ tự trải nghiệm về lòng thương xót Chúa dành cho riêng mình ngay lúc hạnh phúc, thành công hay cả những khi đau khổ và thất bại. Cảm nhận sự hiện diện của Chúa ngay chính những điều nhỏ mà chúng ta đối diện trong từng ngày sống, và nó sẽ trở thành những điều cần thiết giúp chúng ta có khả năng nhìn thấy Chúa và nuôi dưỡng đức tin mỗi ngày thêm vững mạnh hơn.

Lạy Chúa! Xin hãy đến và chạm đến tâm hồn chúng con. Amen.

 

6. LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA ĐỔ TRÀN TRÊN GIÁO HỘI

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Kính thưa quý OBACE, chúa nhật thứ hai mùa phục sinh hằng năm đã được Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II chọn làm ngày lễ tôn kính Lòng Thương Xót của Chúa. Vì, các bài đọc hôm nay nhấn mạnh cách đặc biệt đến việc Chúa Giêsu Phục Sinh thể hiện lòng thương xót của Ngài qua các tông đồ và giáo hội sơ khai, như người cha ân cần lo cho con cái, giúp cho Giáo Hội lớn lên cả về đời sống đức tin và đời sống vật chất.

Bài Tin Mừng cho thấy Chúa Phục Sinh lo lắng cho các tông đồ và củng cố đức tin cho các ông, để sau này, các ông trở thành những người xây dựng đức tin nơi các cộng đoàn. Chắc chắn, biến cố thập giá đã khiến cho đức tin của các tông đồ vô cùng chao đảo. Nhiều năm đi theo Chúa, tin Chúa là Đấng quyền năng, vậy mà, trước mắt các ông, Thiên Chúa dường như chịu thua trước thế lực của sự dữ. Ngài đã bị bắt, bị người ta hành hạ, bị giết chết bằng cái chết kinh hoàng trên thập giá mà chính các ông đã chôn táng Ngài. Điều này khiến đức tin của các ông bị giằng co: Thầy Giêsu có phải là Thiên Chúa quyền năng không? Các tông đồ dường như rơi vào tuyệt vọng vì nhiều năm theo Thầy Giêsu, giờ đây dường như đã chấm dứt không có kết quả. Thêm vào đó là nỗi sợ hãi vì những kẻ hung hãn tìm cách tiêu diệt những người có liên hệ với Chúa Giêsu. Nhiều người khác thì nhìn các tông đồ bằng con mắt khinh miệt vì có liên quan đến một tử tội. 

Chúa Giêsu Phục Sinh thấu hiểu tâm trạng của các tông đồ. Vào buổi chiều ngày phục sinh, Chúa đã hiện ra với các tông đồ và nói với các ông: “Bình an cho các con!”. Ơn bình an là ơn mà lúc này, các tông đồ đang rất cần để có thể vượt qua được thử thách trong cuộc sống và trong đức tin. Để củng cố lòng tin của các ông, Chúa Phục Sinh đã cho các ông xem tay và cạnh sườn của Chúa, đụng chạm đến các dấu vết yêu thương của Ngài. Điều này giúp các tông đồ vượt qua được những hoang mang nghi ngờ. Sau đó một lần nữa, Chúa Giêsu lặp lại: “Bình an cho anh em! Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”. Có thể nói, lần thứ nhất khi ban bình an cho các tông đồ, Chúa giúp các ông lấy lại được sự thăng bằng trong tâm hồn, còn lần thứ hai này, ơn bình an của Chúa Phục Sinh, giúp các tông đồ mạnh dạn thực hiện mệnh lệnh Chúa sai đi.

Cùng với mệnh lệnh sai đi, Chúa Giêsu đã thổi hơi trên các ông,  ban Thánh Thần và ban quyền cho các ông nhân danh Chúa để tha thứ. Hơi thở của Chúa Phục Sinh, chính là hơi thở tái tạo các tông đồ, biến đổi các ông từ tình trạng chết chóc, tê liệt chuyển sang sống động, từ con người cũ được Thánh Thần biến đổi thành con người mới, từ những con người nhút nhát thành những con người can đảm. Đặc biệt hơn, cùng với Thánh Thần, các tông đồ được trao phó sứ mạng yêu thương và tha thứ. Qua việc tha thứ , các tông đồ trở thành những người diễn tả và nối dài lòng thương xót của Thiên Chúa cho thế giới. Ơn tha thứ chính là món quà cao quý nhất của lòng thương xót mà Chúa Phục Sinh đã ban cho nhân loại. 

Tình thương của Chúa Phục Sinh không phải là một sự quan tâm chung chung. Trái lại, đó là tình yêu thương cụ thể, cá biệt cho từng người. Tin Mừng Gioan kể về trường hợp của Tôma: “Vào chiều ngày Phục Sinh, Chúa hiện ra với các tông đồ, lúc đó không có mặt Tôma”. Có lẽ nỗi đau từ biến cố tử nạn thập giá của Chúa đã khiến ông hoàn toàn thất vọng, ông bỏ anh em để tự mình đi tìm câu trả lời về việc Chúa đã sống lại. Sự thất vọng của ông dường như đi đến cực đoan đến độ ông đòi hỏi: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ tay vào lỗ đinh, không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người thì tôi không tin”. Câu nói của Tôma khiến cho nhiều người cho rằng ông cứng lòng, nhưng thực ra câu nói này thể hiện một tâm hồn vẫn còn khao khát được đụng chạm đến Chúa Phục Sinh, như các anh em tông đồ khác đã được nhìn thấy dấu đinh.

Chúa Phục Sinh đã thấu hiểu tâm trạng đáng thương của Tôma, Chúa đã đáp ứng sự khao khát trong ông. Tám ngày sau, Chúa hiện ra với các tông đồ, Ngài cũng ban bình an cho các ông, cách riêng cho Tôma. Chúa Giêsu đã mời gọi Tôma xỏ ngón tay vào lỗ đinh, đặt bàn tay vào cạnh sườn Chúa. Chúa cho ông được tiếp xúc đụng chạm tới Chúa, từ đó Tôma đã có một kinh nghiệm đức tin hết sức đặc biệt. Lòng thương xót Chúa dành cho Tôma đã hoàn toàn biến đổi con người ông. Ông đã tuyên xưng: “Lạy Chúa của tôi! Lạy Thiên Chúa của tôi!” Ông tuyên xưng Đức Giêsu không chỉ là Thầy, mà là Chúa là chủ, là Thiên Chúa Đấng tổ tiên ông tôn thờ.

Chúa Giêsu đã đón nhận lời tuyên xưng của Tôma, nhưng Chúa nói thêm: “Vì con đã thấy Thầy nên con tin. Phúc cho những ai không thấy mà tin”. Lời chúc phúc này là lời chúc phúc Chúa dành cho tất cả mọi tín hữu sau các tông đồ. Tất cả các tín hữu đều không được thấy những lần Chúa hiện ra, cũng không được đụng chạm đến vết đinh nơi Chúa Giêsu, nhưng chúng ta vẫn tin Chúa đã sống lại nhờ lời chứng của các tông đồ.

Sách Công Vụ Tông Đồ cho thấy quyền năng của Chúa Phục Sinh hoạt động cách mạnh mẽ nơi các tông đồ, khiến các ông miệt mài đi khắp nơi để loan truyền Tin Mừng vĩ đại này cho muôn dân. Cũng vậy, các tín hữu sơ khai đã đón nhận niềm tin Chúa Phục Sinh và được Thánh Thần của Chúa quy tụ thành một dân mới, một dân đã được biến đổi nhờ sức sống và quyền năng của Chúa Phục Sinh ban cho.

Sách Công Vụ kể lại: “Các tín hữu sống đồng tâm nhất trí nên một với nhau trong cùng một đức tin”. Họ không coi thứ gì là của riêng, nhưng mọi sự đều là của chung. Họ sống tình bác ái chia sẻ với nhau, không để ai trong cộng đoàn phải thiếu thốn. Họ đem tiền bạc của cải đặt dưới chân các tông đồ, để các ông phân phát cho những người có nhu cầu. Một vài phác họa như thế cho thấy các cộng đoàn giáo hội sơ khai được gọi là các cộng đoàn phục sinh, vì họ sống sức sống của Chúa Phục Sinh. Họ làm cho lòng thương xót của Chúa được lan tỏa cách cụ thể đến với từng người. 

Trong đời sống, nhiều khi chúng ta cũng gặp thử thách trong đức tin, nhất là khi đối diện với đau khổ, sự chết. Có những lúc thử thách dường như quá sức chịu đựng, chúng ta cũng rơi vào tình trạng tuyệt vọng và thách thức Chúa như Tôma. Tin Mừng hôm nay khẳng định rằng: Chúa Phục Sinh không bỏ rơi Giáo Hội và cũng không bỏ rơi bất cứ thành viên nào trong Giáo Hội, Ngài luôn hiện diện kịp thời để nâng đỡ cho sự yếu kém của chúng ta, chỉ có điều chúng ta có nhận ra sự hiện diện của Ngài hay không mà thôi. Chúa Phục Sinh vẫn hằng ở bên chúng ta, chúng ta có thể tiếp xúc, đụng chạm đến Ngài. Bí Tích Thánh Thể là sự hiện diện nâng đỡ của Chúa giúp chúng ta vững bước trên hành trình theo Chúa. Nơi Bí Tích Thánh Thể, chúng ta không chỉ được đụng chạm mà còn được đón rước Ngài vào cư ngụ trong tâm hồn và gia đình mình.

Lòng thương xót của Chúa vẫn đang được ban tặng cho chúng ta nơi Bí Tích Giải Tội. Nơi đây, chúng ta được cảm nhận, được đụng chạm đến trái tim yêu thương và sự tha thứ của Chúa. Cũng chính nơi Bí Tích Giải Tội, chúng ta đón nhận được ơn bình an của Chúa Giêsu phục sinh, ơn mà Ngài đã ban cho các tông đồ, khiến tâm hồn các ông được tái sinh, đổi mới.

Cộng đoàn giáo hội sơ khai ngày xưa vẫn là gương mẫu cho chúng ta ngày nay. Chúng ta sống trong Giáo Hội, và chỉ trong sự hiệp thông hiệp nhất với Giáo Hội, chúng ta mới có thể đón nhận được Tin Mừng Phục Sinh. Giống như Tôma ngày xưa, khi tách rời khỏi cộng đoàn các tông đồ là Giáo Hội, đức tin của ông bị chao đảo, thử thách. Chỉ khi ông quay trở về đón nhận lời chứng của các tông đồ, đức tin của ông mới được củng cố. Và, chỉ trong Giáo Hội, cùng với Giáo Hội, Tôma mới có thể cảm nghiệm và gặp gỡ được Chúa Phục Sinh. 

Xin Chúa cho chúng ta một lòng trung thành yêu mến gắn bó với Giáo Hội. Vì tin rằng, Giáo hội là Mẹ đang nhân danh Chúa Phục Sinh để nuôi dưỡng, chăm sóc từng người chúng ta. Xin Chúa Giêsu Thánh Thể cho chúng ta nhờ siêng năng đến đón rước Chúa, được củng cố đức tin và sống tình huynh đệ bác ái với mọi người. Amen.

 

7. SUY NIỆM CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH_B

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam

Chúa nhật II Phục Sinh là ngày Giáo hội mừng kính tuyên dương lòng Chúa Thương Xót. Đức Chân phước Giáo hoàng G. Phaolô 2 đã thiết lập lễ này ngày 30/4/2000, dịp lễ tuyên phong Chân phước Faustina Kowalska lên bậc Hiển thánh. Thánh nữ là người có lòng sùng kính và truyền bá Lòng Chúa Thương Xót. Đặc sủng này của Thánh Faustina được Đức Giáo Hoàng G. Phaolô 2 ngưỡng mộ và đề cao. Vì thế, việc ấn định Chúa nhật II Phục Sinh được dành để tôn kính Lòng Chúa Thương Xót đã trở thành định hướng suy niệm mầu nhiệm Phục Sinh. Mầu nhiệm Phục Sinh là tột đỉnh của tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại và biểu lộ trọn vẹn Lòng Chúa Thương Xót và muốn cứu con người khỏi thân phận phải chết, khỏi ách thống trị của ma quỷ để nhân loại được cứu độ, được sống muôn đời.

Bài Tin mừng hôm nay soi sáng cho chúng ta thấy ý nghĩa sâu sa về Lòng Chúa Thương Xót và hành trình đức tin của tông đồ Thomas.

Lòng Chúa Thương Xót được biểu lộ qua việc Chúa Giêsu Phục sinh đến ban bình an cho các tông đồ, ban Thần Khí của Ngài cho các ông: “Bình an cho anh em, Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”.

Sự kiện Thầy bị bắt, bị kết án tử hành và chết trên thập giá một cách thê thảm, khiến các ông kinh hoàng sợ hãi“Nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái”.

Giữa lúc các Tông đồ sợ hãi, tuyệt vọng. Bao nhiêu ước mơ, bao nhiêu hy vọng đã tan biến. Tâm hồn các ông giờ đây nặng trĩu ưu phiền thất vọng. Đức Giêsu Phục sinh vì yêu thương đã hiện đến với các ông để phá tan u buồn thất vọng đem lại niềm vui an bình cho các môn đệ. Đức Giêsu muốn các ông an lành, bình an, hạnh phúc, Ngài cho các ông xem“tay và cạnh sườn” những dấu vết cụ thể của cuộc khổ nạn, những dấu tích liên quan tới cái chết để minh chứng Ngài đang sống, đang hiện diện bằng xương thịt giữa các ông. Đó là bình an của Chúa Giêsu Phục sinh. Bình an của Đấng đã chiến thắng sự chết. Sự chết, điều đáng sợ nhất của loài người, sẽ đem lại sức mạnh giúp các tông đồ thắng vượt mọi lo sợ, khó khăn, đe dọa. Đó là dấu chỉ của Lòng Chúa Thương Xót. Đem lại bình an cho tâm hồn những người theo Chúa, chính là ơn thương xót Chúa dành cho con người.

Bình an là khát vọng của con người hôm nay đang sống trong một thế giới luôn âu lo vì nạn khủng bố khắp nơi. Khi bình an, người ta hỏi thi hào Dante người Italia:

– Đâu là điều ông mong mỏi và tìm kiếm nhất trong cuộc sống?

– Tôi vẫn luôn đi tìm kiếm điều mà bất cứ ai cũng tìm kiếm: Đó là sự Bình An.

Bình an đích thực chỉ có được nơi Đức Kitô Phục sinh dựa trên nền tảng tình thương và công lý.

Đức Giêsu Ohục sinh đến ban Thần Khí cho các Tông đồ và sai các ông ra đi loan báo Tin mừng về sự tha thứ.

“Người thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ”.

ĐứcGiêsu Phục sinh đã tái tạo đổi mới các tông đồ bằng hơi thở Thần Khí. Qua hơi thở của Đấng Phục sinh, vũ trụ và con người cũng được tái sinh, đổi mới, được sống. Đó là cuộc sống đích thực của các tâm hồn không còn sợ hãi nữa nhưng mạnh mẽ, can đảm lên đường, loan báo và thể hiện Lòng Chúa Thương Xót qua việc nhân danh Chúa ban ơn tha tội cho con người.

Như vậy, Ơn Thánh Thần, bình an và ơn tha tội chính là kết quả sung mãn của mầu nhiệm Phục sinh, mầu nhiệm của Lòng Thương Xót Chúa. Chính thần khí của Đức Giêsu Kitô phục sinh ban cho chúng ta sự bình an, sự sống mới như thánh Phaolô nói: “Thần khí của Người đang ngự trong anh em mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới”. (Rm 8, 11)

Gặp Đức Giêsu Kitô phục sinh và tiếp nhận Thần khí của Ngài, các tông đồ trở nên can đảm, an vui, hăng say làm chứng vì Tin mừng Đức Kitô phục sinh. Niềm tin vào Đức Giêsu Kitô phục sinh là nguyên lý của cuộc sống nhân loại.

Nội dung thứ hai của bài Tin mừng hôm nay là hành trình đức tin của tông đồ Thomas.

Ông Thomas vắng mặt vào buổi chiều Chúa hiện ra với 10 tông đồ. Vì không có hơi thở của Thần khí do không gặp Đức Giêsu Kitô phục sinh, tâm hồn Thomas vẫn cứng tin. Ông muốn kiểm chứng Chúa có sống lại thật không? Những điều các tông đồ thuật lại không thuyết phục Thomas?

Chúa Giêsu phục sinh đã chiều theo ý muốn của Thomas. Chúa hiện ra với ông tám ngày sau. Thiên Chúa rất kiên nhẫn và rất mực yêu thương. Khi gặp Đức Giêsu phục sinh, Thomas được nhìn thấy con người của Chúa bằng xương, bằng thịt, một vị Thầy ngày nào đầy khoan dung và nhẫn nại. Một người Thầy đầy Lòng Thương Xót. Khi gặp Đức Giêsu Kitô phục sinh, được ban Thần khí, Thomas mới sống trong con người mới và tin vào Thầy: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”.

Thomas đã tin.Tin Thầy Giêsu là Chúa, Đấng chiếm trọn cuộc sống của ông. Tin Thầy Giêsu là Thiên Chúa, Đấng ban sự sống vĩnh cửu. Hành trình niềm tin của Thomas vào Đấng phục sinh không chỉ do nhìn thấy những dấu đinh nơi chân tay, vết đòng đâm thâu nơi cạnh sườn, mà chính là được cảm nhận sự nhẫn nại của một tình thương chờ đợi của Chúa.

“Phúc thay những người không thấy mà tin”. Đức tin là một hồng ân nhưng không mà Thiên Chúa ban để ta gắn bó mật thiết với Thiên Chúa và chấp nhận những chân lý mà Thiên Chúa mặc khải để chúng ta được cứu độ. Tin mừng thánh Gioan quả quyết:

“Anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, mà để nhờ tin mà sống nhờ danh Người”.

Đức tin là cần thiết để được cứu độ. Chính Chúa Giêsu đã nói: “Ai tin và chịu phép Rửa sẽ được cứu độ, còn ai không tin, thì sẽ bị kết án” (Mc 16, 6).

Xin Đức Giêsu Kitô củng cố niềm tin cho chúng ta để chúng ta sống chứng nhân về Lòng Chúa Thương Xót.

 

8. SUY NIỆM CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH_B.

Lm Giuse Đinh Tất Quý

Kính thưa anh chị em 

Chúng ta vừa nghe một câu chuyện mà chúng ta đã thuộc lòng từ khi còn nhỏ. Câu chuyện hôm nay đã trở thành một gợi hứng cho rất nhiều bài suy niệm với rất nhiều khía cạnh khác nhau. Riêng tôi qua bài Tin Mừng hôm nay tôi chỉ xin chia sẽ với anh chị em một vài cảm nghĩ rất riêng tư của mình. Nói một cách rất vắn tắt tôi thấy Toma có những đức tính làm tôi nể phục.

1. Trước hết là sự minh bạch và rõ ràng trong lập trường của ông.

Tôma không phải là người trung lập. Ông có một lập trường rất rõ rệt. Ông sống quyết liệt, không sống nửa vời. Ông nhất định không chịu nói là mình tin khi ông không tin. Ông không hề đè nén sự nghi ngờ của mình xuống bằng cách làm như mình không hề nghi ngờ. Ông muốn biết chắc mọi sự, và thái độ này của ông hoàn toàn đúng. 

Đó là thái độ mà tôi tưởng Chúa cũng thích. Chính vì thế mà không những Chúa không khiển trách Tôma mà còn xem như bằng lòng với ông khi hiện ra với ông trong bài Tin Mừng hôm nay.

Chúa không thích thái độ dở dỡ ương ương, thái độ nửa vời vì nó là một thái độ rất khó chịu và rất nguy hiểm. 

Để cho người ta thấy thái độ nửa vời nguy hiểm như thế nào thì chúng ta hãy nhớ lại một  ít lời trong Kinh Thánh: 

Trong Tin Mừng Luca Chúa bảo: “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau thì không thích hợp với nước của Thiên Chúa (Lc 9,62)

Trong sách Khải Huyền. Chúa nói với dân Laoxiđê: “Ta biết các việc ngươi làm. Ngươi chẳng nóng mà cũng chẳng lạnh. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi nhưng vì ngươi hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng ta (Kh 3,15-16) 

Ngày hôm nay chẳng thiếu những người giữ đạo cho có, chỉ hình thức, lạnh chẳng ra lạnh, nóng cũng chẳng ra nóng. Những người như thế đang là mối nguy cho Chúa hôm nay. 

Chúng ta hãy xin Chúa giải thoát chúng ta khỏi tình trạng dửng dưng lạnh nhạt và lười biếng tinh thần, dứt bỏ những ươn hèn của thân xác và linh hồn để được sống lại trong đời sống mới của ơn thánh, trong hăng say yêu mến và nhiệt thành phục vụ Chúa.

2. Đức tính thứ hai mà tôi cảm phục nơi con người của Tôma là khi đã biết chắc chắn, ông sẽ đi cho đến cùng.

Đây là đức tính của những anh hùng. Người anh hùng khi đã biết chắc chắn, họ sẽ đi cho đến cùng. Khi Tôma nói: “Lạy Chúa tôi, lạy Chúa Trời tôi” thì ông đã biết ông phải sống như thế nào rồi. Tôma không đứng ở vị trí lưng chừng. Ông không làm bộ hoài nghi chỉ nhằm chơi trò ú tim tinh thần. Sở dĩ ông nghi ngờ là vì muốn trở thành người biết chắc, và khi đã biết chắc rồi, ông hoàn toàn tuân phục. 

Theo một cuốn sách ngoại kinh có nhan đề “Các công việc của Tôma” thì người ta thấy Tôma được mô tả là một con người rất trung thực. Sau đây là một trích đoạn có liên quan đến Tôma. 

“Sau khi Chúa sống lại, các môn đệ được phân bổ khu vực để đi rao truyền Tin Mừng của Chúa cho mọi người. Mỗi người phải đến một nơi nào đó để mọi người trên khắp thế gian đều được nghe Tin Mừng. Tôma bắt thăm nhằm xứ Ấn độ. Thoạt đầu Tôma không chịu. Ông nói:

 – Tôi là một người Do thái, làm sao lại có thể đến sống giữa những người Ấn độ mà truyền giảng chân lý cho họ được? 

 Tối đến, Chúa Giêsu hiện ra với ông và bảo: 

– Này Tôma, đừng sợ, hãy đến Ấn độ và giảng ở đó, vì ân sủng của Ta ở cùng con.  

Lúc đó có một thương gia tên Abbanes từ Ấn đến Giêrusalem.  Ông này được vua Gundaphorus sai đi để tìm cho nhà vua một người thợ mộc giỏi để đem về Ấn độ. Tôma vốn là một thợ mộc. Chúa Giêsu đến cùng Abbanes ngoài chợ và hỏi: 

 – Ông có muốn mua một thợ mộc không? 

Abbanes đáp: 

– Muốn. 

Chúa Giêsu nói:

 – Tôi có một tên nô lệ làm thợ mộc và tôi muốn bán! 

Rồi Chúa chỉ Tôma đang đứng đàng xa. Hai bên ngã giá và Tôma bị bán. Tờ biên nhận viết như sau: “Tôi tên là Giêsu, con trai Giuse thợ mộc, nhìn nhận có bán tên nô lệ của tôi là Tôma cho ông Abbanes, thương gia của Gundaphorus, vua dân Ấn”. Sau khi viết xong giấy bán, Chúa Giêsu đi tìm Tôma, đưa ông đến với Abbanes. Abbanes hỏi: 

– Có phải người đó là chủ của anh không? 

Tôma đáp: 

 – Phải. 

Abbanes nói:

– Tôi đã mua anh từ ông ta. 

Tôma yên lặng. Sáng hôm sau, Tôma dậy thật sớm để cầu nguyện, sau đó ông đến thưa với Chúa Giêsu: 

– Lạy Chúa, con xin nhận bất cứ nơi nào Chúa muốn, nguyện ý Ngài được nên trọn. 

Và sau đó ông lên đường. 

Vâng! Đó chính là Tôma một người chậm tin, chậm thuần phục, nhưng khi đã thuận phục thì thuận phục hoàn toàn. 

Câu truyện còn tiếp tục kể rằng vua Gundaphorus ra lệnh cho Tôma xây một cung điện, Tôma tâu với vua rằng ông có đủ khả năng để làm việc ấy. Nhà vua cấp tiền đầy đủ cho ông mua vật liệu và thuê nhân công, nhưng ông đem phân phát hết cho người nghèo. Ông luôn luôn tâu với vua rằng ngôi nhà đang được xây cất. Sau một thời gian nhà vua sinh nghi bèn cho gọi Tôma đến hỏi: 

– Ngươi xây cung điện cho ta xong chưa? 

Ông đáp: 

– Bây giờ hoàng thượng chưa thể đến xem được, nhưng sau khi lìa bỏ đời này thì hoàng thượng sẽ thấy. 

Thoạt đầu nhà vua muốn nổi cơn thịnh nộ và người ta tưởng là tánh mạng của Tôma lâm nguy, nhưng cuối cùng như một phép lạ, nhà vua tin Chúa. Và như thế, Tôma đã đem Kitô giáo đến Ấn độ. 

Kính thưa anh chị em 

Con người của Tôma là thế. Nơi Tôma, có cái gì rất đáng yêu, đáng ngưỡng mộ. Với Tôma, có đức tin không phải là chuyện dễ, ông không bao giờ sẵn sàng vâng lời ngay. Tôma là người muốn biết chắc chắn, ông tính thật kỹ giá phải trả. Nhưng một khi đã biết chắc, ông nhất quyết tin và vâng phục cho đến cùng. Đức tin như Tôma tốt hơn loại đức tin bằng đầu môi chót lưỡi. Ông là người muốn biết rõ và sau khi đã biết, ông đã sống chết với gì gì ông biết.

Lạy Chúa Giêsu phục sinh,

lúc chúng con tìm kiếm Ngài trong nước mắt,

xin hãy gọi tên chúng con như Chúa đã gọi tên

chị Maria đứng khóc lóc bên mộ.

Lúc chúng con chán nản và bỏ cuộc,

xin hãy đi với chúng con trên dặm đường dài

như Chúa đã đi với hai môn đệ Emmau.

Lúc chúng con đóng cửa vì sợ hãi,

xin hãy đến và đứng giữa chúng con

như Chúa đã đến đem bình an cho các môn đệ.

Lúc chúng con cố chấp và xa cách anh em,

xin hãy kiên nhẫn và khoan dung với chúng con

như Chúa đã không bỏ rơi ông Tôma cứng cỏi.

Lúc chúng con vất vả suốt đêm mà không được gì,

xin hãy dọn bữa sáng cho chúng con ăn,

như Chúa đã nướng bánh và cá cho bảy môn đệ.

Lạy Chúa Giêsu phục sinh,

xin tỏ mình ra cho chúng con thấy Ngài mỗi ngày,

để chúng con tin là Ngài đang sống, đang đến,

và đang ở thật gần bên chúng con. Amen.

 

9. LÒNG CHÚA XÓT THƯƠNG

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Phục sinh: tạo dựng con người mới trong Thần Khí thứ tha

Theo tông đồ Gio-an, lần Đức Ki-tô Giê-su hiện ra trước đông đủ các môn đệ, sau khi Người sống lại (việc hiện ra lần hai có mặt Tô-ma càng nhấn mạnh sự đông đủ này) có một tầm quan trọng rất lớn. Sau những lời chào hỏi và tự giới thiệu, Người đã tuyên bố một điều và làm một cử chỉ long trọng hầu biểu lộ trọn vẹn bản chất sâu xa nhất của tông đồ đoàn và của người môn đệ, tức là của những kẻ tin và thuộc về Người – của Hội Thánh. Ngài thổi Sinh Khí mới vào các môn đệ và sai các ông ra đi để thứ tha, “Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em… Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”.

Nếu trước đó Người đã ‘cho các ông xem tay và cạnh sườn’ thì cũng chỉ là để cho các ông nhận ra Con Người Phục Sinh cũng chính là Con Người Cứu Chuộc. Con Người đó đã được Chúa Cha sai đến để cứu rỗi trần gian, “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16). Người Con này, một khi đã sống lại, thì cũng yêu thế gian đến nỗi đã sai các môn đệ của mình đi, hầu tiếp tục sứ vụ làm cho thế gian khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. 

Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”’.

Cũng như trong cuộc tạo dựng đầu tiên, hơi thở của Thiên Chúa đã thổi sinh khí vào con người, thì cũng vậy hơi thở của Đức Giê-su Ki-tô Phục Sinh thổi Thần Khí vào các môn đệ, hầu các ông trở thành tạo vật mới. Nếu thổi hơi lần đầu đã ban cho con người quyền sống để làm bá chủ muôn loài (St 2:7), thì hơi thổi lần hai này ban cho người môn đệ ơn tha thứ, để rồi họ cũng thi hành quyền thứ tha cho hết mọi người “Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha…” 

Nếu Thiên Chúa tạo dựng là Thiên Chúa hằng sống, và ai nhận được hơi thở của Ngài sẽ có sự sống và có khả năng thông truyền sự sống (St 1:28), thì Đức Ki-tô Phục sinh là Thiên Chúa của thứ tha và xót thương nên ai nhận được hơi thở của Người cũng được tha thứ và có khả năng làm lan tỏa thứ tha tới hết mọi người. Như thế trong Thần Khí Đức Ki-tô Phục Sinh, người môn đệ trở nên tạo vật mới đầy tràn sức sống của thứ tha. Nếu mọi con người đều có quyền sống, thì mọi Ki-tô hữu đều có quyền sống thứ tha. Nếu mọi người nhân loại đều phải bảo vệ sự sống và truyền sinh, thì mọi Ki-tô hữu trong Hội Thánh đều phải bảo vệ ơn tha tội và thúc đẩy việc thứ tha. Tôi thiết tưởng cái gọi là ‘quyền tha tội và cầm buộc’ của Hội Thánh phải được hiểu theo nghĩa và nội dung này.

Về mặt này tôi rất tâm đắc với nhận xét của Hurault trong Christian Community Bible: ‘Ki-tô hữu càng nỗ lực tiến xa trong đời sống thiêng liêng luân lý, thì càng thấy mình chưa được hoàn toàn giải thoát khỏi tội lỗi. Do đó họ càng cảm nhận ơn tha tội là một quà tặng và quyền lợi lớn lao nhất được ban cho Hội Thánh. Tội không phải chỉ là những lỗi luân lý phạm hàng ngày, trong đó phần sai lầm và yếu đuối là chính. Tội thực ra là từ chối hay e sợ nộp mình cho Thiên Chúa tình yêu và tha thứ, là Đấng duy nhất có khả năng đưa chúng ta đến một cuộc sống hoàn toàn trần trụi, nhưng lại hoàn toàn viên mãn. Một khi tha tội cho chúng ta, Người ban cho ta khả năng biết tự nộp mình cho Người.

Nói cách khác, đó là khả năng tha thứ, là sức mạnh duy nhất có thể cho phép ta giải quyết và giải phóng mọi kiểm tỏa của con người… Thái độ dung thứ là bí quyết vô cùng quí giá mà Hội Thánh phải xem là tài sản độc đáo nhất của mình, là Tin Mừng mình đón nhận và trao ban cho thế giới… Ki-tô hữu lãnh nhận bí tích rửa tội tức là họ ý thức thân phận tội lỗi trường kỳ của mình, họ đón lấy hơi thở Thần Khí thứ tha của Thiên Chúa, và họ quyết sống tình yêu tha thứ này luôn mãi trong đời mình và trong mọi tương quan với tha nhân. Tha thứ, đối với họ, là quyền sống căn bản nhận được từ Đức Ki-tô Phục Sinh, mà họ sẽ cố bảo vệ bằng mọi giá.’ Ai càng thuộc về tông đồ đoàn, thì càng phải cảm nhận được hơi thở tha thứ của Đức Ki-tô Phục Sinh. Càng là tín hữu trung kiên trong Hội Thánh, tôi càng phải sở đắc và sống sung mãn ơn cứu chuộc và thứ tha.

Tôi thiết nghĩ, trong tư cách một linh mục của Hội Thánh, tôi là người trước hết phải nắm bắt được bản chất thánh thiện đích thực này của Hội Thánh, và thi hành quyền ‘thứ tha’ mà Đức Ki-tô đã ban cho Hội Thánh trong Thánh Thần với tất cả sự khẩn trương và quảng đại. Đặc biệt thế giới ngày nay, đặc biệt giới trẻ, đang trông chờ được Hội Thánh chính thức trình bày khuôn mặt thật này của Đức Ki-tô Phục Sinh.

 Lạy Chúa Phục Sinh, xin thổi hơi Thần Khí một lần nữa trên con và trên mọi tín hữu như Chúa đã thổi trên các môn đệ trong lần hiện ra đầu tiên. Trong đêm Phục Sinh, con đã tuyên xưng mình muốn sống Ki-tô hữu cách trọn vẹn hơn. Xin dạy cho con hiểu rằng, sống Ki-tô hữu là giữ trọn quyền được tha thứ và thứ tha cho tha nhân. Xin hãy sai con đi làm chứng tá cho tình yêu Phục Sinh của Chúa. A-men

 

10. LÀM CHỨNG CHO ĐẤNG PHỤC SINH

Trong suốt tuần bát nhật, Giáo hội chọn những bài đọc trong sách Tông đồ Công vụ, để thuật lại những bài giảng của thánh Phêrô nói về sự kiện Đức Giêsu đã sống lại. Vị Tông đồ đã nhiều lần khẳng quyết sự xác tín này trước nhà cầm nguyền Rôma, trước những đầu mục và biệt phái người Do thái, cũng như trước đông đảo quần chúng. Trong Chúa nhật tuần này, chúng ta được mời gọi nhìn vào chứng tá của cộng đòan Giêrusalem tiên khởi(bài đọc 1), cũng như học hỏi niềm tin nơi các Tông đồ, đặc biệt nơi Tôma Đydimô. Niềm tin đó là nền tảng xây dựng Hội thánh và cũng được truyền thụ lại cho chúng ta ngày hôm nay.

Ngài thổi hơi vào các ông và ban Thánh Thần (Ga 20,22).

Trong nhãn quan thần học của Thánh Gioan, các sự kiện liên hoàn được trình thuật lại, gồm việc Chúa sống lại, đi vào trong vinh quang với Chúa Cha và trao ban Thần khí để xây dựng Hội thánh, tất cả chỉ là một mầu nhiệm duy nhất không tách rời. Vì vậy Chúa Phục sinh hiện đến giữa các Tông đồ vào ngày thứ nhất trong tuần, thổi hơi trên các ông và trao ban năng quyền tha tội, chính là động thái thiết lập Giáo hội, nhiệm thể của Đức KitôPhục sinh. Sự sống của Đấng Phục sinh được thông truyền cho Giáo hội, vì thế ngoài Giáo hội, tức ngoài nhiệm thể của Đấng Phục sinh sẽ không có ơn cứu độ. Chúng ta nhớ lại, trong trình thuật tạo dựng, tác giả sách Sáng thế thuật lại việc Thiên Chúa lấy bùn đất tạo nên hình người. Sau đó, Ngài thổi hơi ban sinh khí và con người trở nên sinh vật, tức là một vật thể có sự sống(St 2,7).

Đây là những hình ảnh biểu trưng, khải thị cho ta biết rằng sự sống phát nguyền từ nơi Thiên Chúa. Song, tội lỗi đã nhập vào trần gian và con người đánh mất sự sống ban đầu. Vì thế, trong chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa, Đức Giêsu đến trần gian và dùng chính máu của Ngài để ‘Giải án Tuyên công’ (hạn từ của dịch giả Nguyễn Thế Thuấn), cho chúng ta được ‘Công chính hóa’, và phục hồi nơi chúng ta sự sống làm con cái Chúa. Trong cái nhìn thần học ấy, thánh Gioan đã miêu tả việc Chúa hiện đến, và thổi hơi ban Thần khí để tái sinh Hội thánh chỉ là một sự kiện duy nhất. Chúa đã sống lại khai sinh một dân mới, dân tư tế, dân tộc thánh thiện gồm đoàn người đông đảo mặc áo trắng tinh, áo đã được giặt trong máu Chiên Con(Kh 8,14). Trình thuật hôm nay cần được đọc lại, liên thông với sách Khải huyền để chúng ta có thể nắm bắt những tư tưởng thần học mà thánh Gioan muốn trình bày.

Chứng tá của cộng đoàn Giêrusalem tiên khởi

Trong bài đọc 1, Thánh Luca, tác giả sách Tông đồ Công vụ nêu bật chứng tá của cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên. Đây là cộng đoàn do chính Chúa Giêsu thiết lập bằng cách thông ban sự sống mới cho họ. Cộng đòan này đã được hồi sinh, và đời sống của họ trở nên chứng tá cụ thể cho Đấng Sống lại. Tác giả đã nêu ra 4 đặc nét của cộng đoàn này:

– Sống một lòng một ý, tức hiệp nhất trong tình yêu.

– Sống theo chế độ cộng sản đúng nghĩa nhất, bằng việc đặt mọi sự làm của chung.

– Chuyên cần trong việc bẻ bánh, tức là cử hành các Bí Tích.

-Tuân theo lời chỉ dạy của các Tông đồ.

Sự sống mới mà Đấng Sống lại ban tặng đã giúp hồi sinh cộng đoàn và các vị đã trở nên những chứng nhân đầu tiên, thể hiện rõ nét qua cách sống mới. Đây là mô thức cho tất cả các cộng đoàn Kitô hữu chúng ta.

Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 đã nói: “Thế giới ngày nay cần những chứng nhân hơn là thầy dạy”. Rao giảng bằng lời nói phải đi đôi với hành động. Phêrô thì rao giảng cách mạnh mẽ và can trường, và cuối cùng Ngài đã chấp nhận cái chết tử đạo để trở thành chứng nhân. Các Kitô hữu tại Giêrusalem thì rao giảng qua đời sống chứng tá huynh đệ, gắn kết với nhau trong tình yêu, và biết chia sẻ với nhau của cải vật chất cũng như của ăn tinh thần. Họ vâng phục các tông đồ là những người thừa ủy năng quyền của Đấng Phục sinh, và nhờ đó họ trở nên một nhiệm thể duy nhất. Các cộng đoàn Kitô của chúng ta hôm nay cần nhìn vào mẫu gương đó để học hỏi và sao chép.

Niềm tin kiên định nơi Tôma và các tông đồ.

Tôma không phải là con người cứng tin như nhiều người lầm tưởng. Ngài cũng không phải là con người thuộc trường phái duy nghiệm hay thực dụng, tức là chỉ thấy mới tin. Trái lại, Tôma là một tông đồ có niềm tin rất sâu xa và kiên định. Ngài khao khát muốn được tiếp cận trực tiếp với Đấng Phục sinh để được Đức Giêsu thổi hơi ban Thánh thần, chuyền tải cho mình sự sống mới. Tôma và các tông đồ đã được Chúa Giêsu cho thỏa mãn ước mơ ấy. Tâm hồn của các Ngài đã được lấp đầy bằng sự sống và ân sủng. Chúa trưng ra các vết tích cuộc tử nạn nơi thân thể Ngài để mời gọi Tôma một lần nữa nhìn lại hình bóng Thập giá và nhắc nhở các học trò đi sâu vào mầu nhiệm tự hủy hầuđược sống với Ngài trong sự sống mới. Lời tuyên tín của thánh Tôma ‘Thưa Thầy…’ là lời tuyên bố bắt đầu khai mở cuộc hành trình mới trong đức tin để cùng chết với Thầy mình trong mầu nhiệm tử đạo mỗi ngày. Sử sách ghi lại rằng, Thánh Tôma sau này đi truyền giáo ở Parthia và đã lãnh triều thiên tử đạo tại đó.

Tôma không phải là một tông đồ cứng tin hay cố chấp. Trái lại, đức tin kiên vững nơi Ngài là mô hình để chúng ta cùng học hỏi và noi theo.

Kết luận

Giáo hội đã mừng lễ Chúa Phục sinh và kéo dài suốt cả tuần bát nhật. Các ngày Chúa nhật cũng là ngày mừng Chúa sống lại, và mầu nhiệm căn bản này phủ bọc trọn vẹn đời sống đức tin của chúng ta. Nhưng điều quan trọng là chúng ta đã hiển thị niềm tin ấy cách cụ thể như thế nào. Chúng ta hãy bắt chước cộng đoàn Giêrusalem năm xưa để rao giảng không phải chỉ bằng lời nói, nhưng còn bằng chính cuộc sống của chúng ta mỗi ngày.

 

11. MẦU NHIỆM THƯƠNG XÓT

Trầm Thiên Thu

Chính Chúa Giêsu đã mặc khải ước muốn của Ngài cho Thánh nữ Faustina, vị Tông đồ tiên khởi của LCTX: “Ta muốn một tấm hình được làm phép trọng thể vào Chúa Nhật sau Đại lễ Phục Sinh, và Ta muốn tấm hình đó được tôn kính công khai để mỗi linh hồn đều biết đến tấm hình đó” (Nhật Ký, số 341).

Và Ngài hứa: “Ta muốn ban ơn tha thứ hoàn toàn cho các linh hồn nào xưng tội và rước lễ trong ngày lễ kính Lòng Thương Xót của Ta” (Nhật Ký, số 1109). Ơn “tha thứ hoàn toàn” đó là Ơn Toàn Xá mà Người Trộm Lành Dismas đã được lãnh nhận ngay trước khi Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng, lúc 3 giờ chiều ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Cũng từ Giờ Cứu Độ đó, Nguồn Mạch Lòng Thương Xót của Thiên Chúa đã tuôn trào chan hòa mãi đến muôn đời cho mọi người, chỉ với một điều kiện đơn giản là thật lòng SÁM HỐI và TIN TƯỞNG vào Lòng Thương Xót của Ngài.

Thiên Chúa công minh khi xét xử và ra hình phạt thích đáng khi con người phạm tội, nhưng ngay lúc đó Ngài cũng chứng tỏ lòng thương xót: Khi ông bà nguyên tổ phạm tội, Thiên Chúa ra hình phạt là phải đau khổ và phải chết, nhưng Ngài hứa ban Đấng Cứu Thế để cứu con người để giải lời nguyền đó; Cain đã nhẫn tâm sát hại đứa em Abel, Thiên Chúa phạt Cain phải sống lưu lạc và bị người ta ruồng bỏ, nhưng Ngài vẫn thương xót bằng cách ghi dấu trên người Cain để người ta nhìn thấy mà không được phép giết: “Bất cứ ai giết Cain sẽ bị trả thù gấp bảy lần” (St 4:15).

Lòng Chúa Thương Xót (LCTX) được đề cập nhiều lần trong Kinh Thánh, đặc biệt trong Phúc Âm có các dụ ngôn “điển hình” về Lòng Chúa Thương Xót: Người Samari Tốt Lành (Lc 10:30-37), Con Chiên Bị Mất (Lc 15:4-7), Đồng Bạc Bị Mất (Lc 15:8-10), và nhất là Người Cha Nhân Hậu (Lc 15:11-32).

Nói về tình hiệp nhất, sách Công vụ Tông đồ cho biết: “Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có MỘT LÒNG MỘT Ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung” (Cv 4:32). Đó là một thế giới đại đồng, thật lý tưởng biết bao!

Chúa Giêsu đã phục sinh – Alleluia! Thánh Vịnh gia xá nhận: “Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ” (Tv 118:24). Chính các Tông Đồ không còn sợ hãi nên đã can đảm “làm chứng CHÚA GIÊSU SỐNG LẠI”, đó là “nhờ quyền năng mạnh mẽ Thiên Chúa ban” và “Ngài ban cho tất cả các ông dồi dào ân sủng” (Cv 4:33). Có điều đặc biệt là “trong cộng đoàn, không ai phải thiếu thốn, vì tất cả những người có ruộng đất nhà cửa, đều bán đi, lấy tiền, đem đặt dưới chân các Tông Đồ. Tiền ấy được phân phát cho mỗi người, tuỳ theo nhu cầu” (Cv 4:34-35). Tình hiệp nhất được thể hiện rất cụ thể – một cách sống Lòng Thương Xót.

Điều đó chứng tỏ mọi người tràn đầy Ơn Chúa và thực sự có Chúa ngự trong tâm hồn. Khi có Chúa trong mình, người ta biết khước từ Cái-TÔI-Đáng-Ghét, biết sống đại lượng hơn, biết CHO hơn là NHẬN, biết sống VỚI và sống VÌ người khác, thể hiện cách sống Mầu Nhiệm Đức Kitô Phục Sinh.

Điệp ca “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” được lặp đi lặp lại trong Tv 118 và trong Tv 136. Thánh Vịnh gia cho biết: “Chúng xô đẩy tôi, xô cho ngã, nhưng Chúa đã phù trợ thân này. Chúa là sức mạnh tôi, là Đấng tôi ca ngợi, chính Người cứu độ tôi” (Tv 118:13-14), bởi vì “tay hữu Chúa giơ cao, tay hữu Chúa đã ra oai thần lực” (Tv 118:15). Thiên Chúa luôn làm những việc lạ lùng, hoàn toàn “ngược đời”, ngoài sức tưởng tượng của con người: “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường” (Tv 118:22). Vì “đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta” và là “ngày Chúa đã làm ra”, nên chúng ta “hãy vui mừng hoan hỷ” (Tv 118:23-24). Niềm vui mừng quá lớn, không thể không nói ra.

Vừa xác định vừa định nghĩa, Thánh sử Gioan nói: “Ai tin Đức Giêsu là Đấng Kitô, kẻ ấy đã được Thiên Chúa sinh ra. Và ai yêu mến Đấng sinh thành thì cũng yêu thương kẻ được Đấng ấy sinh ra” (1 Ga 5:1). Tôi được Thiên Chúa tái sinh, bạn cũng được Thiên Chúa tái sinh, vậy tôi phải yêu thương bạn, nếu không thì tôi chỉ là người ích kỷ và nói dối. Yêu thương cũng là thương xót. Thánh Gioan phân tích: “Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được mình yêu thương con cái Thiên Chúa: đó là chúng ta yêu mến Thiên Chúa và thi hành các điều răn của Ngài. Quả thật, yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ các điều răn của Người. Mà các điều răn của Người có nặng nề gì đâu, vì mọi kẻ đã được Thiên Chúa sinh ra đều thắng được thế gian” (1 Ga 5:2-4). Thánh Gioan nói “có nặng nề gì đâu”, thế nhưng lại không hề đơn giản, nếu không cầu nguyện và cố gắng thì không dễ thực hiện “luật nhẹ nhàng” ấy của Chúa.

Chính nhờ lòng tin mà chúng ta thắng được thế gian, nếu không tin thì không thể làm gì, điều này chứng tỏ lòng tin vô cùng quan trọng, vì thế mà Chúa Giêsu đã luôn nhắc nhở về lòng tin. Thánh Gioan đặt vấn đề: “Ai là kẻ thắng được thế gian, nếu không phải là người tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa?” (1 Ga 5:5). Câu hỏi đó cũng chính là câu trả lời. Thánh Gioan giải thích luôn: “Chính Đức Giêsu Kitô là Đấng đã đến, nhờ Nước và Máu; không phải chỉ trong Nước mà thôi, nhưng trong Nước và trong Máu. Chính Thần Khí Chúa là chứng nhân, và Thần Khí Chúa là sự thật” (1 Ga 5:6). Máu và nước rất mềm nhưng lại không gì mạnh bằng, thiếu máu và nước thì người ta không thể sống nổi!

Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!” (Ga 20:19). Nói xong, Ngài cho các ông xem tay và cạnh sườn. Ngài cho các ông xem để trấn an và củng cố đức tin cho họ. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Ngài lại nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (Ga 20:21). Rồi Ngài thổi hơi vào họ và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha, anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20:22-23). Ngài “sai đi” là Ngài trao trọng trách, nhưng Ngài cũng ban Chúa Thánh Thần để hỗ trợ chúng ta hằng ngày.

Chính Chúa Giêsu đã dùng Máu và Nước để rửa sạch tội lỗi và tái sinh chúng ta, đồng thời Ngài cũng ban Thần Khí để giúp chúng ta can đảm làm chứng về LCTX vô biên, bởi vì Ngài biết chúng ta còn yếu đuối lắm – cả thể lý lẫn tinh thần!

Chiều hôm đó, một người trong Nhóm Mười Hai là Tôma, cũng gọi là Điđymô, không ở với các ông khi Đức Giêsu đến. Các môn đệ khác nói với ông: “Chúng tôi đã được thấy Chúa!”. Nhưng ông Tôma nói ngay: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20:25). Động thái của ông Tôma cũng chính là động thái của chúng ta, vì đôi khi ngay lúc chúng ta nói tin nhưng hành động của chúng ta lại không chứng tỏ niềm tin đó, thậm chí có khi còn hành động trái ngược!

Một tuần sau, các môn đệ lại có mặt trong nhà, lần này có cả ông Tôma. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em”. Rồi Ngài bảo ông Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Ga 20:27). Ui da! Sao Ngài biết vậy nhỉ? Ông Tôma hết hồn và choáng váng, liền thưa: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20:28). Ông không nói tin hay không, nhưng câu “lạy Chúa” của ông đã nói lên tất cả. Đức Giêsu bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29). Nếu chúng ta thật lòng tin Chúa-Giêsu-Tử-Nạn-và-Phục-Sinh thì chúng ta có phúc hơn Tông Đồ Tôma rồi đấy!

Và Thánh sử Gioan kết luận: “Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em TIN mà ĐƯỢC sự sống nhờ danh Ngài” (Ga 20:30-31).

Quả thật, LCTX mầu nhiệm biết bao! Tuy nhiên, được tận hưởng LCTX thì chúng ta phải thực thi lòng thương xót với tha nhân – không trừ ai. Thánh Phaolô nói: “PHẢI đối xử tốt với nhau, PHẢI có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô” (Ep 4:32). Trong tâm tình đó, Tông Đồ Giuđa cũng vui mừng gởi lời chúc tốt lành tới tất cả chúng ta: “Chúc anh em được đầy tràn lòng thương xót, sự bình an và tình thương” (Gđ 1:2), và “hãy cố gắng sống mãi trong tình thương của Thiên Chúa, hãy chờ đợi lòng thương xót của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, để được sống đời đời” (Gđ 1:21).

Lạy Thiên Chúa hằng hữu và giàu lòng thương xót, xin chạnh lòng thương chúng con. Vì cuộc khổ nạn đau thương của Đức Giêsu Kitô, xin thương xót chúng con và toàn thế giới. Xin Thánh Faustina và Thánh Gioan Phaolô II cầu thay nguyện giúp chúng con luôn. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

 

12. LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA DÀNH CHO TÔ-MA

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

Cho tới nay nhiều người đã quá quen với câu: “lò nóng củi tươi cho vào cũng cháy” của ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Câu này đã làm cho nhiều quan chức mất ăn, mất ngủ vì tội của mình sẽ bị phanh phui. Một cuộc chiến tranh giành quyền lực hay làm sạch đội ngũ cán bộ cũng làm cho bầu trời như đang sụp đổ với nhiều người.

Chỉ mấy tháng thôi mà ta đã thấy những thanh củi tươi một thời lẫy lừng phải hầu tòa liên tiếp hết tội này đến tội khác như Trịnh Xuân Thanh hay Đinh La Thăng. Rồi đến những tướng lĩnh ngành công an hay như những đại gia ngân hàng hiển hách một thời nay cũng lao vào vòng lao lý.

Nhìn vào thế sự xảy ra ta mới thấm thấm thía câu nói:

Sông kia có lúc người có khúc

Dâu bể – phù phu – lắm đổi thay!

Diễm phước lên voi, đừng hãnh tiến

Ngừa khi xuống chó bể sa lầy

Điều mà người xưa vẫn dạy là.

Thực ra, cuộc đời vốn không bao giờ ưu đãi với ta. Cuộc đời luôn đưa đến sóng gió, thử thách, nghi nan. Có người vượt qua nhưng có người đã ngã quỵ. Sóng gió có thể do tội mình gây ra nên phải chịu hình phạt của hậu quả như những quan chức sống thiếu thanh liêm. Sóng gió có thể do người khác đưa đến mà mình là nạn nhân đôi khi cũng cảm thấy mệt mỏi như khi bị hiểu lầm, bị hàm oan. . . Sóng gió có thể do thiên tai hay tai nạn dồn dập khiến ta rơi vào bế tắt tột cùng.

Trong biến cố đồi Calve các tông đồ cũng rơi vào tuyệt vọng tứ bề. Khi thì nghe xôn xao người ta bắt Thầy Giê-su. Lúc thấy quân dữ hành hung Chúa. Khi thấy đám đông la hét đòi đóng đinh Chúa. Và rồi thấy Chúa tắt hơi thở được an táng trong mồ. Bầu trời đã hoàn toàn sụp đổ nơi các tông đồ. Kẻ về quê, người lẩn trốn. Kẻ hoang mang – người tuyệt vọng.

Phúc âm hôm nay cho ta thấy khuôn mặt mang tính cách tuyệt vọng trong cô độc của Tô-ma. Phúc âm ghi lại: Chúa phục sinh đã hiện ra với các tông đồ, trừ Tô-ma. Tô-ma đã vắng mặt ngày hôm đó. Không rõ lý do tại sao vắng mặt, nhưng nếu có thể đoán với tính tình mau nản dễ bỏ cuộc của ông. Ông đã tách lìa cộng đoàn. Ông đã quá quen với những tin tức đen tối u buồn, cho nên những tin tức nào có tính cách đau thương, thất bại, bách hại thì ông mới tin. Ông không đủ lạc quan để tin vào niềm vui Chúa sống lại. Thế nên, khi nghe tin Thầy Giê-su sống lại thì ông đòi sự kiểm chứng. Ông đã hùng hồn tuyên bố: nếu tôi không xỏ ngón tay vào cạnh sườn, vào lỗ đinh ở tay, chân Chúa thì tôi không bao giờ tin. Ở đây ta thấy lòng thương xót Chúa đã khuất phục ông. Khi hiện ra với ông , Chúa không than trách ông mà còn cho ông xem những mũi đinh trên thân thể Người. Tô-ma đã thấy và đã tin.

Cuộc đời chúng ta đôi khi cũng đánh mất đi quá nhiều cơ hội, bỏ lỡ nhiều dịp may để hy vọng, để tin, để sống. . . Chúng ta bỏ lỡ đi sự hiện diện, cứu giúp của Chúa, ơn tha thứ của Chúa. Thế nên, cuộc đời chúng ta vẫn chìm đắm trong đau khổ và thất vọng. Có một điều chúng ta phải học nơi Tôma là ông dám làm lại cuộc đời sau khi gặp được Chúa. Tôma đã được biến đổi. Từ một con người thờ ơ lãnh đạm, nghi ngờ yếu đuối, ông trở thành một người tuyên xưng đức tin hùng mạnh: “Lạy Chúa, lạy Chúa tôi”. 

Tô-ma chính là mẫu gương cho đời sống đức tin của chúng ta. Có những lúc chúng ta bước đi trong đêm tối của cuộc đời. Muốn buông xuôi. Muốn bỏ cuộc. Có những lúc chúng ta thất vọng muốn xa rời cộng đoàn, chẳng dám tin ai. Tô-ma đã từng xa lìa cộng đoàn. Sống trong cô đơn, thất vọng. Nhưng ông đã trở về với cộng đoàn. Ông bám vào cộng đoàn, nhờ đó mà ông tìm được niềm vui Chúa phục sinh. 

Hôm nay là Chúa nhật lòng thương xót như muốn củng cố thêm đức tin cho chúng ta. Thiên Chúa không bao giờ thua cuộc. Thiên Chúa không bao giờ bỏ cuộc. Thiên Chúa luôn thi thố lòng thương xót của mình cho những ai tin vào Người. Tô-ma cứng tin nhưng vẫn được Chúa xót thương cho xem cạnh sườn Chúa. Tô-ma đã từng tuyệt vọng nhưng lòng thương xót Chúa đã hồi phục Tô-ma trong ánh sáng sự phục sinh.

Nguyện xin Chúa Phục sinh ban cho chúng ta ơn bình an và lòng tin mạnh mẽ để có thể tuyên xưng Chúa trong mọi biến cố vui buồn trong đời. Xin cho chúng ta đừng bao giờ rời xa cộng đoàn, nhưng luôn hiệp nhất với nhau trong một đức tin, đức cậy, đức mến nồng nàn. Amen.

Các bài mới
Các bài đã đăng