Suy niệm Lời Chúa
CÁC BÀI SUY NIỆM CHÚA NHẬT 1 MÙA VỌNG B
Đăng lúc: 13:52 | 01/12/2017
Lượt xem: 47
“Đời sống của người đạo đức không diễn tiến trong những trạng thái thiu thiu ngủ, những giấc mơ và những đam mê, nhưng trong nỗ lực dấn thân luôn luôn chăm chú và điều độ của con tim nhân loại”, Lohmeyer. Đây là cách tốt để sống giáo huấn của Đức Giêsu.
CÁC BÀI SUY NIỆM CHÚA NHẬT 1 MÙA VỌNG B

CÁC BÀI SUY NIỆM CHÚA NHẬT 1 MÙA VỌNG B

Mc 13,33-37

 

1. Hãy canh chừng

(Suy niệm của Peter. Feldmeier – Lm. Văn Hào SDB, chuyển ngữ)

“Điều Thầy nói với anh em, Thầy cũng nói cho mọi người: “Hãy canh chừng” (Mt 13, 37).

Mùa vọng, adventus trong tiếng Latinh, có nghĩa là đang đến. Có một điều gì đó đang đến, và Đức Giêsu hôm nay nhắn gửi chúng ta sứ điệp “Hãy canh chừng”. Vậy, trong mùa vọng, điều gì đang đến và chúng ta phải canh chừng cái gi?

Bài đọc thứ nhất hôm nay, trích trong sách ngôn sứ Isaia, là một lời than vãn của dân Israel sau khi trở về từ cuộc lưu đày bên Babylon. Thay vì phấn khích khi được trở lại cố hương, dân Chúa lại cảm thấy sầu buồn não nuột. Lời nguyện họ dâng lên Chúa như một lời kinh sám hối (tội ác chúng con đã phạm tựa cơn gió, cuốn chúng con đi - Is 64,5). Họ xin Chúa hãy nhớ lại nghĩa cũ tình xưa (vì tình thương đối với tôi tớ Ngài, các chi tộc thuộc gia nghiệp của Ngài - Is 63,17). Họ cũng gợi nhắc sự phẫn nộ và trừng phạt của Thiên Chúa (do tội lỗi chúng con, sao Ngài để chúng con lạc xa đường lối Ngài, Ngài làm cho lòng chúng con ra chai đá - Is 63, 17a).

Có lẽ sự bi thiết nhất trong lời kinh này, chính là lời khẩn cầu ai oán dâng lên Chúa: “Xin Ngài xé trời mà ngự xuống, cho núi non rung chuyển trước thánh nhan” (Is 63,19b). Isaia đã diễn bày lời cầu xin của dân trực tiếp kêu cầu Chúa, xin Chúa đến can thiệp vào lịch sử của họ. Lời cầu xin đó phản ánh một kỳ vọng sâu xa nơi dân chúng, được lặp đi lặp lại khá nhiều lần. Dân Chúa đang mong mỏi và đợi chờ “Ngày của Chúa”. Chương 13 trong Tin mừng Marcô, với lối văn khải huyền, cũng nêu bật sự chờ mong cánh chung này. Đức Giêsu nói về sự hủy diệt, về sự buồn thảm, về sự xuất hiện của các Kitô giả, và cuối cùng Ngài nói về chính Ngài, Đấng sẽ ngự xuống trên mây trời (Mc 13,26) đầy uy quyền và vinh quang.

Đức Giêsu kết thúc bài diễn từ cánh chung với những lời cảnh báo qua dụ ngôn mà chúng ta sẽ nghe trong Tin mừng hôm nay. Ngài nói về một ông chủ đi xa, dặn dò các đầy tớ về phần vụ họ phải làm, mỗi người một việc. Người gác cổng cũng như mọi đầy tớ khác được nhắc nhở phải canh thức, vì ông chủ bất ngờ sẽ trở về không biết lúc nào, khi họ lơ đễng, không sẵn sàng.

Khởi đầu mùa vọng, Giáo hội đọc lại cho chúng ta những bài Kinh Thánh nói về việc Chúa sẽ đến lần thứ hai, nhưng chúng ta không nên lẫn lộn ở đây khi gợi nhắc ý tưởng này. Mùa vọng, chắc chắn là việc cử hành nghênh đón mầu nhiệm Nhập Thể, mầu nhiệm Thiên Chúa đến trần gian trong cung cách thật khiêm tốn và dung dị. Mùa vọng gọi mời chúng ta quy chiếu về giây phút quan trọng nhất của lịch sử cứu độ và lịch sử con người, khi Thiên Chúa trở nên người phàm, đồng phận với chúng ta, và sự sống vĩnh hằng của Thiên Chúa gắn kết chặt chẽ với số phận mong manh của kiếp người. Lịch sử con người, và ngay cả thời gian, tự nó cũng được cứu chuộc qua phút giây linh thánh này. Đức Giêsu trở lại lần thứ hai, đầy vinh quang để hoàn tất lịch sử, khóa sổ vũ trụ và biến những gì Thiên Chúa đã thiết lập qua việc nhập thể của Chúa Con, được trở nên viên toàn. Hướng cái nhìn về mầu nhiệm nhập thể, và cũng hướng về sự trở lại lần thứ hai của Đức Giêsu trong ngày cánh chung, là hai khía cạnh của một cái nhìn duy nhất: Nhãn quan hướng đến vĩnh cửu.

Cái nhìn đó, hướng mở về chân lý vĩnh hằng, phải là cái nhìn của chúng ta trong suốt mùa vọng này. Khi chúng ta chiếm hữu được Đức Kitô, với Thần khí ngự trong Ngài, chúng ta sẽ chiếm được vinh quang vĩnh cửu nơi Ngài. Tương lai của chúng ta chính là Đức Giêsu. Hiểu như thế, vĩnh cửu đã đến với chúng ta, trở nên một phần của chính hiện hữu nơi chúng ta, tái tạo chúng ta và lôi kéo chúng ta hướng đến vinh quang mà chúng ta sẽ sở đắc, mặc dù bây giờ chưa tròn vẹn. Mùa vọng là mùa chờ đợi. Chúng ta đợi chờ Đức Giêsu sẽ đến lần thứ hai, nhưng cũng chính là chờ đón Đức Kitô sẽ đến và đang đến trong cuộc đời của chúng ta hôm nay, một sự đến vẫn mãi còn ẩn dấu.

Như vậy, ngay bây giờ chúng ta phải làm gì với sự vĩnh hằng đang đến? Trước hết, chúng ta hãy nhìn vào các người đầy tớ trong Tin mùng hôm nay. Họ vẫn phải tiếp tục chu toàn công việc thường ngày trong khi ngóng chờ ông chủ trở về. Còn người gác cổng vẫn phải lo phận sự canh gác như bổn phận thường khi. Canh thức và làm việc là hai cách thái diễn tả sứ điệp Lời Chúa hôm nay, một sứ điệp rất quan trọng. Một hình thái thì mô tả tư thế đứng chiêm niệm và cầu nguyện (người canh cổng). Còn hình thái kia diễn tả thái độ làm việc với sự năng động(các đầy tớ). Trong mùa vọng, chúng ta cần đi sâu vào đời sống cầu nguyện hơn. Đồng thời trong mùa vọng, chúng ta cũng cần hăng say hơn để đáp lời mời gọi của Thiên Chúa, chuyên chăm làm việc hầu biến cải thế giới, và lôi kéo cả vũ trụ này về với Thiên Chúa (1 Cor 15, 24-28). Làm việc và canh thức tương tác với nhau. Nếu mọi biến cố trong lịch sử đều ẩn chứa một ý nghĩa trong chương trình của Thiên Chúa, thì chúng ta không được phép bỏ qua bất cứ một biến cố nào, cho dù nhỏ bé đến đâu. Những lời răn đe, như chúng ta nghe trong bài Tin mừng hôm nay, cũng là một dạng thức Thiên Chúa muốn dùng để lay động tâm hồn chai cứng nơi chúng ta. Cần phải sẵn sàng tiếp cận và gặp gỡ Ngài. “Canh thức” vừa là một bổn phận của người tín hữu vừa là một trách vụ mang chiều kích linh thánh.

 

2. Hãy tỉnh thức

 

1- Tỉnh thức và ý thức: Cả hai đều có cùng một nội dung diễn tả bản chất thiết yếu của con người có lý trí. Khi ngủ ta mất hay ít ý thức. Ta chỉ hoàn toàn ý thức khi tỉnh thức. Việc Chúa Giêsu đã giáng trần để cứu chuộc nhân loại sẽ chẳng có ảnh hưởng gì tới đời sống con người nếu chúng ta không ý thức. Ngài vẫn còn vắng mặt trong tâm thức của nhiều người. Sự vắng mặt này gây nên các vấn đề rắc rối và tạo nên những bi kịch trong cuộc sống nhân sinh. Nó gây ra đau khổ, và chết chóc.

Trong một cuộc phỏng vấn qua ca khúc “Bông Hồng Cài Ao”, thiền sư Thích Nhất Hạnh đã chia sẻ rằng nhận thức sự có mặt của mẹ trong đời, đó là điều làm nên hạnh phúc của những người con. Theo cách suy nghĩ này, chúng ta có thể nói rằng nhận thức sự hiện diện của Đức Kitô và ơn cứu rỗi của Người là điều cần thiết tạo nên hạnh phúc của người Kitô hữu.

2. Tỉnh thức để cảm nhận được những dấu tích của Thiên Chúa xung quanh chúng ta nếu chúng ta biết cách đón nhận. Đức Tổng Giám Mục Fulton Sheen, nhà giảng thuyết thời danh của Hoa Kỳ vào những thập niên 60 và 70 thường ví vũ trụ giống như một cửa sổ được ghép bằng những ô kính. Qua cửa sổ ô kính của thế giới hữu hình chúng ta có thể đến để nhìn ra Đấng Vô Hình, sức mạnh và sự hiện diện của Thiên Chúa. Ký giả Kitô giáo Malcolm Muggeridge đã diễn tả điều này như sau: “Mọi điều lớn hay nhỏ xảy ra là một dụ ngôn qua đó Thiên Chúa nói với chúng ta, và nghệ thuật của đời sống chính là thu thập được cái thông điệp đó”. Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy dẫy những làn sóng điện và âm thanh phát ra trong không gian. Chúng ta không biết nó và không nhận ra nó cho đến khi có một cái máy thu nhận làn sóng điện – receiver – như là radio, tivi, điện thoại di động, computer… Bật máy lên sử dụng, một thế giới thông tin với hình ảnh, âm thanh và tin tức mở ra cho chúng ta. Tất cả sự thông tin thú vị và phong phú này đến với chúng ta chỉ khi nào chúng ta biết đón nhận chúng. Tiếng nói của Thiên Chúa giống như những làn sóng radio hay làn sóng điện toán trong không gian, vây quanh và thấm nhập vào thế giới của chúng ta. Và mỗi người có một cái máy tiếp nhận làn sóng tinh thần ở bên trong giúp chúng ta cảm nhận được những dấu chỉ và cho phép lắng nghe được tiếng nói của Thiên Chúa. Tôi nhìn thấy cái radio, computer tinh thần này ở bên trong mỗi người như một thứ giác quan thứ sáu. Giác quan thứ sáu này chính là lương tâm và đức tin. Khi chúng ta qui tụ nhau lại thờ phượng Thiên Chúa nơi nhà thờ, tham dự bàn tiệc Thánh Thể, rước lấy Mình và Máu Chúa Giêsu Kitô qua hình bánh và rượu, chúng ta cảm nghiệm được sự hiện diện ngọt ngào và thánh thiện của Ngài giữa chúng ta.

3. Tỉnh thức để xa tránh tội lỗi: Trong bài Phúc âm, thánh Marcô dùng hình ảnh của một người canh giữ cửa. Một người canh giữ cửa tỉnh thức và chờ đợi chủ trở về. Không ngủ mê trong yếu đuối xác thịt và tội lỗi. Cũng không canh giữ theo kiểu các chú học trò tinh nghịch nhìn qua khe cửa xem thầy giáo đã trở về hay chưa để phá phách! Trước Giáng sinh năm 1980, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II quy tụ hơn 2000 trẻ em của một giáo xứ ở Rôma. Bằng cuộc đối thoại, ngài dạy giáo lý cho các em và hỏi: “Làm thế nào các con sửa soạn mừng lễ Giáng sinh?” “Bằng cầu nguyện” từ phía sau các em la to. “Rất tốt, bằng cầu nguyện, Đức Giáo Hoàng nói, nhưng cũng phải bằng việc đi xưng tội nữa. Các con phải đi xưng tội để có thể lên rước lễ sau đó nữa. Các con có làm như thế không?” Hàng ngàn trẻ em trả lời trong cùng một tiếng lớn giọng hơn: “Chúng con sẽ làm!” Và Đức Giáo Hoàng nói với các em. “Phải, các con nên đi xưng tội”. Rồi ngài hạ thấp giọng xuống thì thầm, “Đức Giáo Hoàng cũng sẽ đi xưng tội để đón tiếp Chúa Giêsu Hài đồng một cách xứng đáng”.

4. Tỉnh thức vì Thiên Chúa đến rất bất ngờ: Thiên Chúa đến với chúng ta qua mọi hình thức, mọi biến cố trong cuộc sống, ngay cả sự chết, và sau cùng trong ngày phán xét chung, tận thế. Chúng ta phải luôn sẵn sàng đón tiếp Ngài, nhất là những lúc chúng ta không ngờ. “Ta đến như một tên ăn trộm, hạnh phúc cho những ai tỉnh thức”.

Trên chiếc máy bay phản lực 747 vừa cất cánh rời phi trường ở Nữu Ước bay đi Rôma, có một bà cụ già tên là Maude, ngồi ở bên cửa sổ. Cụ để dành tiền trong nhiều năm trời mới đủ để làm một chuyến hành hương Rôma như cụ hằng mong ước. Đây là lần đầu tiên cụ đi máy bay, nên cụ lo sợ và kinh hoàng. Cụ cứ lầm bầm cầu xin: “Lạy Chúa, con phải làm gì ở trển đây?” Mặc dù phía trước cụ có 4 vị giám mục cùng sang Rôma dự hội nghị, cụ vẫn cứ run sợ. Cụ sợ rớt máy bay mà chết! Sau cùng đang lúc run sợ, cụ liếc trộm ra ngoài cửa sổ, chẳng may gặp đúng lúc một trong bốn động cơ của phản lực không còn hoạt động được nữa, và máy bay biến vào đám mây bên dưới. Cụ la hét lên kinh hoàng: “Chúng ta sắp chết! Chúng ta sắp chết!” Cô trưởng đoàn chiêu đãi viên hàng không lập tức đến bàn hỏi ý kiến với phi hành đoàn, rồi thông báo cho tất cả hành khách biết rằng mọi sự sẽ êm đẹp: “Xin quý vị an tâm, viên trưởng phi công bảo đảm với quý vị rằng ông ta có thể điều khiển máy bay quay trở về New York và đáp xuống an toàn với 3 động cơ”. Nhưng bà cụ cứ la hoảng lên: “Chúng ta sắp chết! Chúng ta sắp chết!” Cô chiêu đãi viên lại phải đến trấn an cụ lần nữa: “Cụ ơi, cụ đừng lo, Chúa đang ở với chúng ta. Máy bay của chúng ta chỉ có 3 động cơ thôi, nhưng xem kìa, chúng ta có tới 4 vị giám mục cơ mà!” Nhưng bà cụ trả lời: “Thôi, tôi muốn có 4 động cơ và chỉ cần 3 giám mục là đủ!” Hôm nay Chúa nói với chúng ta rằng: “Chúng con hãy tỉnh thức, vì chúng con không biết lúc nào chủ nhà trở về… kẻo khi ông trở về thình lình, bắt gặp chúng con đang ngủ”. “Hãy tỉnh thức”. Bà cụ hoảng sợ vì không ngờ thời giờ lại đến ngay vào lúc cụ chưa sẵn sàng. Thánh Phanxicô de Sales nói rằng: “Sự chờ đợi đích thực có nghĩa là chờ đợi mà không lo lắng gì cả “.

 

3. Hãy tỉnh thức và đợi chờ - Lm Mark Link

 

“Bạn không biết được lúc nào chủ nhà sẽ về tới”

Một ngày trong tháng 12, cậu Gary Schneider 16 tuổi và hai người bạn lên đường để leo núi Mt.Hood dự tính trong vòng 4 ngày.

Lên được 9.000 bộ (tức gần 3 km), ba cậu bé bị một cơn bão tuyết có lẫn đá thổi tới và vùi lấp. Chẳng bao lâu tuyết đã ngập khỏi đầu các cậu. Các cậu bèn đào hầm chui vào đống tuyết để thoát khỏi những luồng gió lạnh buốt thổi tới và để chờ đợi cho qua trận bão tuyết.

Mười một ngày sau, trận bão tuyết vẫn còn tiếp tục thổi dữ tợn. Các túi dùng để chui vào ngủ của các cậu đã bị ướt và đông cứng lại. Thức ăn dự trù chỉ còn đủ cho mỗi người mỗi ngày được hai muỗng bột làm bánh. Nguồn an ủi duy nhất của các cậu bây giờ là cuốn Thánh kinh gọn nhỏ mà một cậu đã mang theo trong túi hành trang.

Các cậu mở sách Thánh Kinh và đọc mỗi ngày tám tiếng. Đúng là một cảnh tượng ngộ nghĩnh: trong một cái hầm đào trong tuyết rộng 5 bộ vuông (chưa đầy 1m2), có ba cậu bé mới mười mấy tuổi đầu đang ngồi chồm hổm trên những cái túi ngủ đọc sách. Chỉ có một chút ánh sáng mờ ảo phản chiếu từ cái lỗ hầm nho nhỏ ở phía trên.

Tại đó, ba cậu tụm lại với nhau hết giờ này tới giờ khác, ngày này qua ngày khác, cùng nhau lắng nghe Lời Chúa bất chấp tiếng gió hú bên trên.

Cuốn Thánh Vịnh dường như là cuốn nói hay nhất về tình trạng hiện tại của các cậu. Đavid có viết một vài bài khi ông bị lâm vào những tình trạng không khác gì các cậu; đói, cô đơn, không biết chuyện gì sắp xẩy đến, chỉ còn biết tin tưởng ở Chúa.

Nếu có ai cứu giúp, thì người đó chỉ có thể là Thiên Chúa. Chờ đợi như thế không phải chuyện dễ. Các cậu chỉ còn biết cầu nguyện, hy vọng cơn bão tuyết sẽ chấm dứt và sẽ có người tới cứu giúp.

Cuối cùng, vào ngày thứ 16, bầu trời trong sáng trở lại, các cậu bò ra khỏi hầm bằng tuyết của mình. Qua cơn ngặt nghèo ấy các cậu trở thành yếu đuối, và ra khỏi hầm các cậu chỉ có thể bước đi được một ài bước. Ngày hôm sau có một nhóm người cứu trợ bắt gặp cáccậu trong tình trạng như thế. Cuối cùng cơn thử thách khiến các cậu phải chờ đợi lâu dài đó đã chấm dứt.

Câu chuyện của các cậu bé, phải tụm lại với nhau trong hầm bằng tuyết chờ đợi cơn bão chấm dứt, là một hình ảnh tuyệt hảo tượng trưng cho mùa vọng.

Mùa vọng nhắc lại thời gian chờ đợi lâu dài của dân Do Thái mong mỏi Đấng Cứu Thế đến. Họ không biết làm gì để cho Đấng Cứu Thế mau đến hơn họ chỉ biết chờ đợi và cầu nguyện y như các cậu bé kia đã làm trên ngọn núi Mt.Hood. Dân Do Thái chỉ còn biết tin tưởng và chờ đợi Thiên Chúa sẽ đến để giải cứu họ.

Một trong những bài Thánh vịnh mà ba cậu bé cứ đọc đi đọc lại để cầu nguyện trên ngọn núi Mt.Hood là thánh vịnh 130. Trong đó có một câu như sau: “Tôi mòn mỏi trông chờ Chúa cứu độ, và tôi tin tưởng ở lời Ngài. Tôi mòn mỏi trông chờ Chúa còn hơn ngừơi lính gác mong chờ hừng đông”. Nếu không có Lời Chúa nâng đỡ tinh thần, thì các cậu dễ dàng thất vọng lắm. Dân Do Thái cũng như vậy khi họ mong chờ Đấng Cứu Thế. Nếu không có Lời Chúa ủi an họ, thì họ cũng sẽ thất vọng dễ dàng.

Nhưng Mùa vọng không hẳn là thời gian để chúng ta nhớ lại và sống lại việc người Do Thái trông chờ Đấng Cứu Thế là Đức Giêsu. Mùa vọng còn có ý nghĩa hơn như thế nhiều.

Mùa vọng cũng là thời gian để chúng ta tưởng nhớ việc Đức Giêsu sẽ trở lại vào thời cuối cùng của lịch sử, lúc chúng ta ít mong đợi nhất. Chính vì thế mà Thánh sử Marcô nói với chúng ta qua bài Tin Mừng hôm nay như sau:

“Hãy coi chừng, hãy tỉnh thức…Đừng để khi Đức Giêsu bất ngờ đến mà Ngài lại thấy các bạn còn đang ngủ. Những gì tôi nói với các bạn, thì tôi cũng nói với tất cả mọi người: Hãy tỉnh thức”.

Điều này dẫn chúng ta đến quan điểm thứ hai về Mùa vọng. Bạn và tôi, chúng ta đang sống trong khoảng thời gian quan trọng giữ hai thời điểm: lúc Đức Kitô đến lần thứ nhất và lúc Ngài đến lần thứ hai.

Công việc của chúng ta không phải là cứ ngồi chăm chú và thánh thiện nhìn lên bầu trời để tưởng nhớ việc Đức Kitô đến lần thứ nhất và trông chờ Ngài đến lần thứ hai. Bổn phận của chúng ta là hoàn tất công việc mà Ngài đã giao cho chúng ta làm. Trước khi trở về cùng Chúa Cha, Đức Giêsu đã nói với kẻ theo Ngài:

“Các con hãy đi khắp nơi, đến với mọi dân tộc, rao giảng cho họ về nước trời, rửa tội cho họ nhân danh Cha, Con và Thánh Thần, và dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền dạy cho các con. Và Thầy sẽ luôn luôn ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt. 28, 19-20)

Mùa vọng là thời gian để chúng ta kiểm điểm lại xem chúng ta đã làm điều đó tốt đẹp thế nào. Mùa vọng là thời gian để chúng ta tự nhủ một cách đặc biệt rằng: khi Đức Giêsu trở lại, Ngài sẽ xér xử chúng ta xem chúng ta đã làm việc như thế nào để loan truyền nước Thiên Chúa ở trần gian này.

Đức Kitô đã chết. Đức Kitô đã phục sinh. Đức Kitô sẽ trở lại. Cho tới khi Ngài trở lại, chúng ta phải lưu tâm tới công việc mà Ngài đã giao cho chúng ta làm.

Chúng ta phải cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới mặc, tiếp đón khách đến nhà, làm việc cho hoà bình, và yêu thương nhau như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta.

Đây là sứ điệp mà những bài đọc hôm nay muốn nhắn nhủ chúng ta. Sứ điệp đó là: Chính Đức Giêsu, Đấng đã sống ở trần gian cách đây hơn hai ngàn năm, sẽ trở lại vào ngày tận thế đúng lúc chúng ta không ngờ tới. Khi Ngài trở lại, Ngài sẽ xét xử từng cá nhân mỗi người chúng ta về cách thức chúng ta hoàn thành công việc mà Ngài đã giao cho chúng ta làm.

Chúng ta hãy hồi tâm lại để cầu nguyện, xin Đức Giêsu giúp chúng ta trung kiên trong công việc mà Ngài đã giao cho chúng ta thực hiện.

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy ban cho chúng con sức mạnh, vì đôi khi chúng con gặp phải những vấn đề khó khăn rắc rối khiến chúng con muốn bỏ cuộc.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con tình yêu của Ngài, vì đôi khi chúng con bị người khác hất hủi khiến chúng con bị cám dỗ ghét bỏ họ.

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy ban cho chúng con đôi mắt của Ngài, vì đôi khi cuộc đời trở thành đen tối khiến chúng con không còn biết đâu là đường chúng con phải đi.

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy ban chính Ngài cho chúng con. Tâm hồn chúng con đã được dựng nên để yêu Ngài, nên tâm hồn chúng con sẽ không bao giờ an nghỉ cho đến khi nào được nghỉ an trong Ngài.

 

4. Canh phòng

 

Mọi sự ở trần gian này đều có khởi đầu và kết thúc. Đó là một thực tại khách quan mà chúng ta phải đối diện và phải sống với nó. Cuộc đời con người đã có sinh ắt phải có tử. Như vậy, chúng ta cần phải có thái độ nào cho đúng đắn trước thực tại xem ra có vẻ bi quan này?

Khởi đầu Mùa Vọng, Giáo hội cho chúng ta nghe những đoạn Lời Chúa nói về tình thương tha thứ và ơn cứu độ của Thiên Chúa. Đồng thời, Giáo hội cũng mời gọi con cái mình hãy có thái độ sống tỉnh thức và canh phòng cẩn trọng trong đời sống của mình để biết sống tin tưởng và tín thác vào Chúa hơn.

Cùng đích của đời người chắc chắn rồi sẽ đến. Nhưng không ai biết được ngày giờ mình sẽ ra khỏi thế gian này. Đó là việc của Chúa. Còn việc của chúng ta là gì? Thánh Augustinô đã nói: "Chúa Giêsu không báo cho chúng ta biết ngày cuối cùng của đời mình để ta luôn cảnh giác chờ đợi Chúa". Như vậy, điều chính yếu và bổn phận của chúng ta là phải tỉnh thức để chờ Chúa đến. Nhưng đâu là sự thức tỉnh thật sự và cần thiết cho cuộc đời của người Kitô hữu chúng ta?

1. Biết mình:

Thức tỉnh trước tiên là nhận biết mình. Điều này nghe có vẻ hơi lạ. Nhưng nếu con người thật sự biết mình thì sẽ có rất nhiều vấn nạn trong cuộc đời này sẽ được giải quyết cách tốt đẹp. Chỉ khi con người biết rõ mình là ai? Ơn gọi của mình trong cuộc đời này là gì? Đâu là hạnh phúc đích thực của tôi?... thì con người sẽ có thái độ sống tỉnh thức cách tự nguyện và sốt sắng đúng theo tinh thần Chúa mong muốn nơi người con cái mình.

Biết mình là nhận ra mình là tạo vật của Thiên Chúa, một tạo vật đầy những giới hạn và yếu đuối, nhưng con người cũng là tạo vật được Thiên Chúa rất yêu thương. Thánh Phaolô đã nói: "Anh em là những người được Thiên Chúa yêu thương". Như vậy, tôi bước vào cuộc đời này với một sứ mạng và ơn gọi là làm chứng cho mọi người biết: Thiên Chúa yêu thương mọi người và muốn cứu độ hết mọi người. Vì thế, hạnh phúc đích thực và trọn vẹn của tôi không hệ tại ở nơi con người hay ở thế gian này nhưng là ở nơi Thiên Chúa, ở cuộc sống mai sau. Tôi cũng cần biết mình là một thụ tạo đầy những giới hạn và yếu đuối để tôi thấy cần phải bám chặt vào Thiên Chúa là Đấng tạo thành tôi. Từ đó, tôi biết phải sống như thế nào đối với anh em của tôi: yêu thương, tha thứ, nâng đỡ mọi người... vì họ cũng mang thân phận con người như tôi. Hơn nữa. Yêu thương người khác còn là điều kiện cần thiết để tôi được Thiên Chúa yêu thương.

Biết mình là khởi đầu quan trọng trong đời sống đức tin. Nó còn là dấu chỉ của người biết sống tỉnh thức cách tích cực và hiệu quả theo tinh thần Phúc âm.

2. Chu toàn những công việc bổn phận trong tin yêu và phó thác:

Mỗi người đều đã lãnh nhận một sứ mạng, một ơn gọi từ Chúa. Dù ở địa vị nào, bậc sống nào thì công việc của con người cũng đều có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Điều quan trọng không phải là ai đã lãnh nhận nhiều nén bạc của Chúa ban hơn, nhưng là ai đã biết sinh lợi nhiều hơn từ những nén bạc ấy. Bởi lẽ, Chúa đã ban cho ai nhiều thì Người sẽ đòi kẻ ấy lại nhiều hơn. Vì thế, chúng ta hãy biết trung thành chu toàn những nhiệm vụ của mình trong đời sống cách thánh thiện, ý thức và trung tín.

Những việc bổn phận của con người trong cuộc sống có thể là trách nhiệm là cha làm mẹ trong gia đình, có thể là nhiệm vụ của những người thầy cô giáo ở trường lớp, có thể là việc làm của những công nhân trong nhà máy ,xí nghiệp hay căn bản nhất là bổn phận của người Kitô hữu mà chúng ta đã nhận được nhờ qua Bí tích Rửa tội. Những ai biết sống hết mình với những công việc của đấng bậc mình thì người ấy đã sống tinh thần tỉnh thức đúng như ý muốn của Thiên Chúa. Chúng ta cũng cần phải ý thức rằng, việc chu toàn những công việc bổn phận hằng ngày đòi buộc chúng ta phải hy sinh và chịu đựng rất nhiều. Nhưng chúng ta tin tưởng rằng không một việc làm nào của chúng ta ở trần gian này là hoàn toàn vô ích trước mặt Thiên Chúa cả. Chúng ta không làm việc vì phần thưởng thế gian những vì hạnh phúc mai sau trên Quê trời. Chúng ta hãy noi gương hy sinh và phục vụ của thánh Lôrensô Phó Tế, của thánh Vincent de Paul, của Mẹ Têrêsa Caculta... Đó là những chứng nhân sống động của những người sống tinh thần tỉnh thức giữa thế gian này.

Xin Chúa giúp chúng ta biết rõ vai trò và chỗ đứng của mình trong cuộc sống ở trần gian này. Xin Chúa ban cho chúng ta trở thành những người tôi tớ trung thành và tài giỏi trước mặt Thiên Chúa vì biết sinh lợi từ những nén bạc Chúa ban. Amen.

 

5. Chờ đợi Chúa đến - Lm Luy Hữu Độ

 

Cách đây khoảng 15 năm, một tờ báo bên Nước Anh mở một cuộc thi tuyển có tên là “Người chồng gương mẫu nhất nước”. Kết quả là ông John Lavangham đã dành được cái tước hiệu này. Không ai phàn nàn về sự tuyển lựa này vì mỗi sáng ông đều mang cà phê vào tận giường cho vợ. Giúp vợ rửa chén bát, đi chợ dùm vợ và nếu có chuyện gì vợ lên tiếng mắng chửi thì ông không bao giờ hé môi nói lại nửa lời. Chỉ có thế thôi khiến ông hạ đo ván 569 đối thủ khác ngon lành. Ngoài tước hiệu “Người chồng gương mẫu nhất nước” ông còn được một giải thưởng bằng Anh kim tương đương 570,000 đô la Mỹ. Thế nhưng oái oăn thay, vừa lãnh tiền xong thì ông đã điện thoại cho một vị luật sư giỏi để làm một lá đơn ly dị vợ. Ông John đã chờ đợi 16 năm trời trong áp bức, khổ sở mà hôm nay ông mớk có hy vọng thoát ra khỏi đó.

Mùa Vọng là mùa chờ đợi Chúa đến. Chờ đợi là một sự kiện rất quen thuộc trong cuộc đời con người. Tôi chờ một cánh thư, một gói hàng, một cú phone, một chuyến bay. Các em thiếu niên chờ đến tuổi lái xe. Đôi bạn trẻ chờ ngày cưới nhau. Công nhân chờ ngày lãnh lãnh check. Đi tàu chờ ngày vào bến. Học sinh chờ ngày nghỉ học... Là con người chúng ta luôn luôn chờ đợi vì cuộc đời tự nó không bao giờ hoàn tất, luôn luôn có một cái gì sẽ tới, sẽ xảy ra. Mùa Vọng dậy chúng ta kiên nhẫn, hân hoan và hy vọng chờ đợi Thiên Chúa đến.

Có 4 giai đoạn Chúa đến với mỗi người chúng ta:

Giai đoạn thứ nhất Chúa đã đến rồi, đến trong hình ảnh một hài nhi sinh trong máng cỏ. Chúa đến làm người và sống giữa con người. Đây là giai đoạn hồng ân, khởi đầu ơn cứu chuộc.

Giai đoạn thứ hai là giai đoạn hiện tại, Chúa đến rất bình thản, rất thông thường, qua việc chúng ta rước lễ, đọc Kinh thánh, qua việc chúng ta đi học, đi làm - qua việc chúng ta chịu bệnh tật khổ đau, qua những người chúng ta tiếp xúc, nhất là người nghèo khó, bất hạnh...

Giai đoạn thứ ba Chúa đến trong lặng lẽ, từ từ - có khi đột ngột, mau chóng. Đó là cái chết của mỗi người. Đây là giai đoạn quyết liệt vì định đoạt số phận đời đời của mình.

Giai đoạn thứ tư Chúa đến một cách vinh quang, đến trong ngày tận thế. Mọi kẻ thù phải thần phục Ngài, mọi vinh quang, uy quyền đều thuộc về Ngài. Chúa đến để tách chiên ra khỏi dê, lúa mì ra khỏi cỏ lùng. Chúa đến để thưởng nguời lành, phạt kẻ dữ. Đây là giai đoạn quang lâm.

Như vậy cuộc đời của chúng ta đúng lý ra là một mùa Vọng triền miên, vì luôn luôn chúng ta đón chờ Chúa đến. Nếu chúng ta đã đón Chúa đến trong giai đoạn bổn phận một cách tử tế: như làm lành lánh dữ - kính trọng, yêu thương mọi người - giúp đỡ người bất hạnh - năng chịu các bí tích - sống tinh thần Phúc âm... thì khi Chúa đến trong giai đoạn quyết liệt, tức qua cái chết, chúng ta vẫn sẵn sàng thưa: “ Lạy Chúa con đây ”.

Đã có chờ đợi thì không thoát khỏi nhỡ nhàng. Nhỡ một chuyết tàu, nhỡ một cái hẹn, nhỡ một cái thư... Nhưng những cái nhỡ đó có thể bù đắp được. Tuy nhiên nếu “ nhỡ” số phận đời đời của mình thì mất tất cả, ân hận suốt đời. Cái “nhỡ” này nguy hiểm vô cùng, không ai có thể chuộc lại. Chẳng ai sống mãi ở giai đoạn bổn phận vì sẽ có ngày chúng ta chạm tay vào giai đoạn quyết liệt. Nhưng chính giai đoạn bổn phận định đoạt cho ta số phận đời đời ở giai đoạn quyết liệt. Chúng ta biết mình phải sống thế nào để cuối cùng được nghe những lời sau đây: “Hỡi đầy tớ tốt lành và trung thành, hãy vào hưởng phần hoan lạc với chủ ngươi”.

 

6. Tỉnh thức

 

Anh chị em thân mến,

Cách đây mấy ngày hôm, một em sinh viên báo cho biết: bạn của em bị đau gan cách nay hơn tháng. Mới đầu chỉ thấy hơi sốt vào buổi chiều, biếng ăn, mất ngủ, sụt cân. Em này đi bác sĩ dưới tỉnh bảo suy nhược cơ thể. Cách nay một tháng đi bác sĩ ở thành phố, làm hết mọi xét nghiệm, mới lòi ra bệnh gan thời kỳ cuối. Hết thuốc chữa; dù vậy gia đình chạy đủ thầy đủ thuốc; thuốc tây không xong, qua thuốc Bắc thuốc Nam, rồi.... hôm nay phải khiêng ra gò! Bó tay! Có người nói: Chúa sao không có lòng thương xót? Mới 23 tuổi mà bỏ thế gian rồi! Thực ra tuổi nào mà không chết? Có điều dưới ánh sáng niềm tin kitô giáo, mỗi người chúng ta có thức tỉnh, sẵn sàng chờ Chúa đến không? Đó chính là điều Hội thánh mong muốn chúng ta suy niệm trong mùa Vọng năm nay...

a/. Tỉnh thức là gì? Marcô muốn nói gì? Thánh Marcô là "thư ký" và là "con" của thánh Phêrô, nên sách Tin mừng của ông, hầu như ghi lại các bài giảng của Phêrô. Riêng với bài Tin Mừng này, Marcô dùng từ "tỉnh thức", hình như có tương quan với nhiệm vụ "trông coi", nhiệm vụ tông đồ của Phêrô. Cũng có thể nhắc đến bài học "tỉnh thức" trong vườn cây dầu, cả đến chuyện "tỉnh thức" để không vấp ngã trước cám dỗ của tội chối Chúa của Phêrô, trước khi gà gáy hai lần.

Từ "tỉnh thức" phải đi liền với "ý thức". Cả hai nội dung đó đều diển tả bản chất của con người có lý trí, vì khi ta ngủ, ta mất ý thức. Ta chỉ hoàn toàn ý thức khi ta tỉnh thức. Việc Chúa sinh làm người sẽ chẳng ảnh hưởng gì đến con người, nếu ta không có ý thức. Thực tế Chúa vẫn còn vắng mặt trong tâm thức của nhiều người; điều đó đưa đến đau khổ, chết chóc, không bình an, đầy chiến tranh...

b/. Bài Tin Mừng hôm nay dạy ta điều gì? Có mấy điều Hội thánh muốn nhắc nhở:

* Tỉnh thức để cảm nhận ra Thiên Chúa đang hiện diện:

Chúng ta đang sống trong thời đại văn minh của những làn sóng điện, âm thanh đầy dẫy quanh ta. Chúng ta không biết, không nhận ra nó bằng giác quan bình thường. Muốn nhận ra, chỉ cần có cái máy server: là cái radio, cái computer, điện thoại di động, khi mở lên là cả một thế giới thông tin thú vị hiện đến cho chúng ta. Người ta nói: chỉ cần ta biết đón nhận, biết sử dụng mà thôi.- Cùng cách thức tương tự, với mỗi người kitô hữu chúng ta, nếu muốn nhận ra tiếng nói của Chúa, hình ảnh Chúa, sự hiện diện của Người, chúng ta cần một máy server bên trong, đó là lương tâm, là niềm tin của ta. Mùa Vọng là mùa cần tỉnh thức, nhờ lương tâm và niềm tin mà chúng ta nghe được tiếng Chúa nói, cảm nhận sự hiện diện của Chúa trong cuộc sống và trong các bí tích.

* Tỉnh thức để tránh xa tội lỗi:

Thánh Phêrô và các môn đồ được Chúa Giêsu nhắc nhở trong vườn cây dầu: "hãy tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ"(Mc 14, 38). Thánh Phêrô hiểu rõ điều này lắm vì chính ngài đã một lần, vì không tỉnh thức mà đã 3 lần chối Chúa, trước khi gà gáy 2 lần. Sau này, trong cuộc hành trình truyền giáo, khi giảng dạy, thánh Tông đồ Cả đã không sĩ diện, khi nhắc lại cho mọi người về lầm lỗi của mình. Đó cũng là thái độ can đảm nêu gương thiếu tỉnh thức để mọi người nhìn vào mà tránh xa. Tâm hồn của thánh nhân thật đơn sơ, mà cũng thật khiêm tốn. Đáng kính phục thay!

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong một lần gặp gở 200 trẻ em dịp truớc lễ Giáng sinh 1980, đã nhắc nhở các em: "Các con hãy tỉnh thức, cụ thể các con hãy dọn mình kỷ lưỡng bằng việc đi xưng tội; vì... chính Cha cũng sẽ đi xưng tội, để đón tiếp Chúa Hài nhi cách xứng đáng."

* Tỉnh thức vì Chúa sẽ đến bất ngờ:

Mùa Vọng chính là mùa Hội thánh kêu mời ta hãy tỉnh thức, chờ đón Chúa đến. Chờ đón Chúa đến trong chính ngày lễ Noel, để Chúa ban ánh sáng và sức sống cho ta. Chờ đón Chúa đến mỗi khi ta lãnh nhận các bí tích, để Người ban ơn sủng, thêm sức mạnh cho ta. Chờ đón Chúa đến trong cuộc sống bình thường để Người chia vui xẻ buồn với ta và gia đình ta. Chờ đón Chúa đến trong giờ sau cùng của cuộc đời ta, để Người nâng đở, ban ơn và an ủi trong những giờ phút quyết liệt khi ta sắp giả từ cuộc sống trần thế này.

Nếu hiểu như trên, ta sẽ thấy cuộc đời kitô hữu chính là phải tỉnh thức chờ đợi, từng phút từng giây giờ Chúa đến. Người sẽ đến bất ngờ, "vào lúc ta không ngờ, vào giờ ta không biết" (Mt 24, 44). Câu chuyện ở đầu bài suy niệm sẽ cho ta thấy rõ điều này. Thực tế trên đời ai mà không chết, nhưng điều quan trọng chính là ta đừng để ngày giờ đó bất ngờ xảy tới, mà ta chưa chuẩn bị gì cả....

c/. Gợi ý sống và chia sẻ: Mùa Vọng là mùa hi vọng, chuẩn bị đón Chúa đến, với phúc lành, bình an, niềm vui cho mỗi người chúng ta. Bao lâu nay ta đã chờ đợi Chúa thế nào? Có phải ta chỉ tỉnh thức, chờ đón qua những chuẩn bị rình rang bên ngoài mà thôi? Hay thực tâm chúng ta chờ đón Chúa đến trong tâm hồn, để Người ban phúc hành và bình an cho đời sống mỗi người chúng ta và gia đình chúng ta?

 

7. Mở rộng tâm hồn đón Chúa - Lm Nguyễn Bình An

 

“Trời cao xin đổ sương xuống. Mây hãy mưa vị cứu tinh. Đất hãy nẩy sinh Đấng cứu đời và không trung biểu dương oai phong Chúa Trời” là nhưng tiếng ca hy vọng, nức nở và ai oán, diển đạt tâm trạng sa lầy của con người. Sa lầy trong cuộc đời khổ ải và gian truân. Sa lầy vì duyên nợ oan nghiệt và tình đời đắng cay. Sa lầy vì tâm cao hơn trời nhưng đam mê và dục vọng đóng khung và đầy đọa con người dưới đất. Sa lầy vì hạnh phúc vụt bay và tiền, tình, tài chỉ là tai họa. Sa lầy vì thân xác héo khô, mỏi mòn và tâm hồn sầu buồn, khắc khoải.

Con người hoàn toàn bất lực trong tiến trình tu thân tích đức. Con người không thể tự giải phóng bản thân khỏi những đam mê, dục vọng và yếu đuối. Con người không thể giải hóa nổi những đố kị, tranh chấp và tị hiềm. Con người vì thế ngước mắt lên trời cao, thét gào ơn cứu độ và xin mưa ơn công chính. Khát vọng nên công chính là nguyên nhân và ý nghĩa của mùa Vọng. Ơn công chính như nước tưới sa mạc khô cằn để cây cỏ xanh tươi và cuộc đời thêm ý nghĩa và đáng sống.

Ngày rước lễ vỡ lòng, bé Thanh xúng xính trong bộ đồng phục thiên thần. Bé vui nhận những món quả sau nghi thức thánh. Bé ôm chặt mẹ và ngây thơ tâm sự “Mẹ ơi, con muốn chết bây giờ để lên thiên đàng. Con sợ sau này con lớn sẽ có nhiều tội và mất phúc thiên đàng”. Tâm tình đơn thành của em là của mỗi chúng ta. Có lúc chúng ta tươi trẻ và xinh đẹp như thiên thần. Có lúc chúng ta ngã sa và đáng trách như tên quỉ sứ. Lại có những lúc chúng ta hối hả gõ cửa trời và vùng vẫy kêu cứu. Đáng khen! vì đây là dấu hiệu của cuộc chỗi dậy.

Lúc ấy Chúa thân hành đến nâng dậy, vỗ về, thanh tẩy và ban lại niềm vui đã mất. Chúa hành động liên lỉ và mãnh liệt lôi chúng ta ra khỏi vòng kiểm toả của tối tăm. Chúa không vui gì khi nhân loại sống trong sa đọa. Chúa dùng mọi hình thức: dậy dỗ, trách phạt, ngăm đe, những mong cảnh tỉnh và đưa chúng ta ra khỏi bến mê. Có thể khẳng định là Chúa đã dùng mọi phương tiện để ơn cứu độ tuôn tràn vào mỗi cá nhân. Tình trạng sa lầy và dậm chân tại chỗ là do chính chúng ta tạo mãi. Chúng ta xua đuổi và chối từ Chúa. Chúng ta trốn chạy và bịt tai trước những lời kêu mời thân thương và từ ái. Chúng ta đã bỏ lở cơ hội và quay lại tố là Chúa không thương, không giúp.

Trời vẫn ban mưa. Cứu Tinh vẫn đang mời mọc. Đất tiếp tục sinh hoa kết trái. Chỉ có lòng người khô cằn. Tiên tri Isaia cảnh cáo “đời ngươi tội lỗi. Chiếc áo dơ bẩn là công quả đời ngươi. Ngươi không cầu cũng không bám vào Chúa. Vậy ơn cứu độ bởi đâu đến?”

Chúng ta phải moi đá lên, thay đất tốt vào và nhận hạt giống tinh tuyền. Mưa rơi, hạt giống chuyển mình và phát triển. Lời Chúa văng giải quá dư. Tiếng Chúa vang dội khắp chốn. Hôm nay Chúa lại đến gõ cửa nhân loại. “Hãy tỉnh thức vì chủ đến vào lúc người không ngờ”.

Mùa Vọng này chúng ta không mong trời đổ mưa, không cầu mây chuyển Đấng Cứu Độ, không trách đất chưa sinh hoa trái và không phủ nhận vinh quang Chúa nữa. Trái lại chúng ta cầu cho bản thân mình được đứng lên, rướn cao hơn nữa và can đảm bước tới. Vạn sự phải khởi đầu nơi con người yếu đuối và đang sa lầy này. Phản tỉnh là cơ hội và điều kiện để chúng ta kín múc ơn trời, và không lãng phí tình Chúa như những năm trước. Những năm chỉ biết kêu trách và nài xin Chúa bố thí phép lạ nhưng không tích cực cộng tác, thiếu thiện chí thay đổi, chưa can đảm bước tới và không mở lòng đón Chúa.

Chúa trên cao đang giang tay đón chờ. Cửa trời luôn rộng mở. Lời Chúa luôn vang dội. Ơn thánh đang tuôn trào. Bao giờ chúng ta mới tỉnh mộng và sống đúng ý nghĩa mùa Vọng?

 

8. Người giữ cửa canh thức ban đêm

(Chú giải của Lm. FX Vũ Phan Long)

1.- Ngữ cảnh

Bài này rút từ Diễn từ cánh chung (ch.13) của Tin Mừng Marcô là chương nói về những vấn đề của thời buổi cuối cùng. Diễn từ này kết thúc bằng một lời kêu gọi khẩn thiết hãy tỉnh thức. Lời kêu gọi này không chỉ nhắm đến những người đang được Đức Giêsu ngỏ lời với (13,3), nhưng nhắm đến tất cả mọi người (13,37). Lời kêu gọi này được tác giả Mc nêu bật bằng hình ảnh người giữ cửa.

Vậy “tỉnh thức” trong Mc 13 có nghĩa là gì? Là không “ngủ” (c. 36). Nhưng hẳn không phải chỉ có nghĩa đen ấy.

2.- Bố cục

Đoạn văn này được bố cục theo kiểu cấu trúc đồng tâm (chuyển hoán), với đỉnh cao là c. 35:

a: Lời kêu gọi “tỉnh thức” gửi đến các môn đệ (c. 33);

b: Dụ ngôn người chủ đi xa (c. 34);

c: Lặp lại lời kêu gọi mở đầu và áp dụng theo dụ ngôn (c. 35);

b’: Tiếp nối dụ ngôn người chủ đi xa trở về (c. 36);

a’: Lặp lại lời kêu gọi “tỉnh thức” mở đầu, và gửi đến mọi người (c. 37).

Chúng ta cũng có thể thấy đây là một kết cấu song song, nhằm làm nổi bật ý tưởng ta không biết thời gian quang lâm; do đó, có hệ luận: phải tỉnh thức.

Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức (33a)

Vậy anh em phải canh thức (35a)

vì anh em không biết khi nào thời ấy đến (34c)

vì anh em không biết khi nào (35b)

phải canh thức (34c)

không được ngủ (36b)

3.- Vài điểm chú giải

- hãy tỉnh thức (33): Tác giả dùng động từ lạ agrypnete, đồng nghĩa với động từ quen thuộc grçgoreite; đây là một từ của nền văn chương khôn ngoan (G 21,32 LXX; Cn 8,34; Dc 5,2; Kn 6,15; Hc 36,16. Các bản Tân Ước khác cũng có dùng: Lc 21,36; Ep 6,18; Dt 13,17).

- cũng như người kia trẩy phương xa..., và ra lệnh cho người giữ cửa(34): Có một điểm gây thắc mắc: Nếu ông chủ đi phương xa, thì “để nhà lại, trao quyền cho các đầy tớ” là hợp lý rồi. Còn “chỉ định cho mỗi người một việc, và ra lệnh cho người giữ cửa phải canh thức” là cách bố trí của người đi vắng trong một thời gian ngắn. Tại sao lại chỉ lưu ý đến việc “canh thức” ban đêm? Ở đây tác giả Mc nối kết nhiều truyền thống: những lời Đức Giêsu kêu gọi tỉnh thức, dụ ngôn những nén bạc (Mt 24,42; 25,13-15; Lc 12,36-38; 19,12-13), với dụ ngôn người giữ cửa của riêng ông cộng với truyền thống kinh sư về ý nghĩa của “đêm”. Trong TM Mc, không có dụ ngôn “những nén bạc” như trong Mt và Lc.

- lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng (35): Người Rôma chia một đêm thành 4 canh, mỗi canh kéo dài 3 giờ. Còn người Do Thái quen chia đêm thành 3 canh (x. Tl 7,19; Lc 12,38). Nhưng tại sao bài Tin Mừng lại chỉ chú trọng đến “đêm”?

Trong nền văn chương Do Thái giáo, thời gian hiện tại thường được coi như một “đêm”, còn tương lai được ví với một “ngày” hoặc một “buổi sáng”. Những câu Cựu Ước nói về “đêm” theo nghĩa đen thường được áp dụng cho “đêm” của thế gian này. Chẳng hạn lời ông Bôa nói với bà Rút: “Hãy qua đêm ở đây” (R 3,13) được Rabbi Meir (#150 sau CN) trích quy chiếu về “thế gian hoàn toàn là đêm tối ấy” (Rút R. 6,4). Các kinh sư thường áp dụng từ ngữ “canh khuya” trong Tv 92 (“Thú vị thay... được tuyên xưng tình thương của Ngài từ buổi sớm, và lòng thành tín của Ngài suốt canh khuya”) cho thời gian hiện tại (Midr. Tv 92,7). Sách Talmud chú giải câu Tv 104, 20a như sau: “Đêm trở lại khi Chúa buông màn tối” là câu nhắm đến thế giới hiện nay, được so sánh với đêm tối.

Giống như các kinh sư, thánh Phaolô đã dùng những ý tưởng về “đêm” để mô tả thời kỳ hiện tại cho đến ngày Quang Lâm (Rm 13,12). Vì thế, ông đã kêu gọi người Rôma: “Đã đến lúc anh em phải thức dậy” (13,11), vì ơn cứu độ đã gần họ hơn khi họ mới tin, vì “đêm sắp tàn, ngày gần đến” (Rm 13,12; x. 1 Tx 5,5tt). Ông còn nói: “Vì chính anh em đã biết rõ: ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm” (1 Tx 5,2). Hình ảnh “kẻ trộm đến ban đêm” không có trong nền văn chương Do Thái, mà chỉ có trong Tân Ước thôi (Mt 24,42-44; Lc 12,39t; 2 Pr 3,10; Kh 3,3; 16,15). Đây là một yếu tố thuộc truyền thống Ki-tô giáo bắt nguồn từ Đức Giêsu. Từ đó ông khuyên người Thêxalônica hãy tỉnh thức (1 Tx 5,6).

Vậy lời kêu gọi hãy tỉnh thức chờ đợi ông chủ trở về vào một lúc nào đó trong đêm khuya phải được hiểu theo chiều hướng này.

Nhưng làm thế nào dung hòa được hai chi tiết “trẩy phương xa” (đi lâu) và “về lúc chập tối” (đi ngắn hạn)? Trong văn chương Do Thái giáo, có một dụ ngôn na ná với dụ ngôn Mc 13,34tt: Một bà chủ nhà có một nữ tỳ Êtióp. Chồng bà vượt biển đi xa. Suốt đêm, người nữ tỳ nói với bà: “Tôi đẹp hơn bà, đức vua yêu tôi hơn bà”. Bà chủ đáp: “Đến sáng rồi chúng ta sẽ biết ai là người đẹp hơn, ai là người được đức vua yêu thương”. Bài tường thuật tiếp: Các dân nước nói với Israel: “Các hành vi của chúng tôi thật đáng khen, và Đấng Thánh – xin chúc tụng Ngài – hài lòng về chúng tôi”. Rồi bài quy chiếu về Is 21,12 mà giải thích rằng “buổi sáng” đang đến là thời gian tương lai (Dân số R. 16,23 [70b]).

Bài dụ ngôn này cũng có những chỗ không ăn khớp với nhau, và có những chi tiết giúp hiểu bài Mc: đêm tối chính là thời gian hiện tại với những phiền muộn mà dân Chúa phải gánh chịu.

- phải canh thức (36): Trong nền văn chương Do Thái giáo, chủ đề “canh thức” được đề cập đến trong một viễn tượng quốc gia. Israel lúc đó đang bị các vương quốc của thế gian áp bức, chà đạp. Nhưng trong tương lai cánh chung, hoàn cảnh sẽ đảo ngược, Israel sẽ chiến thắng, sẽ nhận được danh dự và vinh quang. Đó là “ngày”.

Trong Tân Ước, giọng điệu ái quốc này không còn nữa. Nay người tín hữu phải chiến đấu “với những quyền lực thần thiêng, với những bậc thống trị thế giới tối tăm này” (Ep 6,12). Thế gian đang nằm dưới quyền của thần dữ (1 Ga 5,19). Thế gian đã quay lưng lại với Ngài, là nguồn ánh sáng. Vì thế, thời gian hiện tại chính là thời kỳ của bóng tối và đêm khuya.

Tuy nhiên, khi Đức Giêsu đến, sấm ngôn Is 9,1 nói về ánh sáng đã ứng nghiệm (x. Mt 4,16). Đức Giêsu là ánh sáng soi chiếu trần gian (x. Lc 2,32; Ga 1,5; 8,12; 12,46). Ai tin vào Đức Giêsu, Đấng Mêsia, thì không phải ở trong bóng tối (Ga 12,46; x. 3,19; Cv 26,18; Cl 1,13; 1 Pr 2,9; Ep 5,8). Nhưng dù đã được giựt ra khỏi vương quyền của bóng tối (Cl 1,13), dù đã trở thành con cái ánh sáng và ban ngày (1 Tx 5,5), người ấy vẫn còn sống trong thời gian của “đêm tối”, vẫn còn ở trong một hoàn cảnh có thể bị cám dỗ, có thể sa ngã, bị tà thần của thế gian hiện tại nắm bắt lại. Để mình bị những sức mạnh thế gian chiến thắng, buông mình theo những chuyện thế gian, đó chính là “mê ngủ”. Trong dụ ngôn, “giấc ngủ” tương ứng với “đêm”: “giấc ngủ” thuộc về “đêm”, bởi vì người ta ngủ ban đêm.

4.- Ý nghĩa của bản văn

* Lời kêu gọi “tỉnh thức” gửi đến các môn đệ (33)

Lời kêu gọi mở đầu này xác định chủ đề của đoạn văn: Phải tỉnh thức. Các môn đệ của Đức Kitô cần phải canh thức, bởi vì họ không biết ngày giờ (“thời ấy”) của cuộc Quang Lâm.

* Dụ ngôn người chủ đi xa (34)

Điểm chính của dụ ngôn là: ngày trở về của ông chủ là biến cố người ta không thể tiên liệu. Ông có thể về bất cứ lúc nào: chính khía cạnh này buộc người giữ cửa phải canh thức liên tục. Nhưng ông cũng có thể đi lâu: chính vì thế các gia nhân cứ phải sinh hoạt để điều hành các công việc của nhà và sinh lợi cho chủ. Các môn đệ của Đức Giêsu vừa là “các gia nhân” vừa là “người giữ cửa”; họ phải vừa làm việc vừa canh thức. Có thể hiểu đây là các vị lãnh đạo cộng đoàn Kitô hữu.

* Lặp lại lời kêu gọi mở đầu và áp dụng theo dụ ngôn (35)

Lời kêu gọi được lặp lại như một điệp khúc, nhưng ở đây, công thức “khi nào thời ấy đến” đã được giải thích bởi công thức song song “khi nào chủ nhà đến”. “Thời ấy” chính là lúc chủ nhà trở về, tức ngày Quang Lâm của Đức Giêsu. Tác giả diễn tả sự bấp bênh cách biểu tượng theo cái khung một ngày: “lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng”.

* Tiếp nối dụ ngôn người chủ đi xa trở về (36)

Các môn đệ của Đức Giêsu đang ở trong “đêm”, nhưng họ không được “ngủ”; họ vẫn sinh hoạt bởi vì ông chủ có thể về ngay trong đêm nay. Họ phải canh thức. Bởi vì biến cố ông chủ trở về thay đổi mọi sự, ta hiểu “làm việc” là “cùng làm việc”. Đức Giêsu đang hành động trong thế giới để đưa đến một nhân loại mới. Người lôi kéo con người vào làm việc với Người, làm cho họ thành những đầy tớ phục vụ hoạt động của Người. Nhưng để có thể cộng tác với Đức Giêsu, họ phải tỉnh thức để nhận ra những gì Người đang làm.

* Lặp lại lời kêu gọi “tỉnh thức” mở đầu, và gửi đến mọi người (37)

Lời kêu gọi ở đây chính là lời kêu gọi ở c. 33 được lặp lại. Cùng với lời kêu gọi ở c. 33, lời kêu gọi ở c. 37 này “đóng khung” toàn bài, đã xác nhận toàn bản văn bên trong được triển khai theo chủ đề “Sự tỉnh thức”. Nhưng đến đây, lời kêu gọi được gửi rộng rãi đến tất cả mọi người, nghĩa là không chỉ dành cho các vị lãnh đạo cộng đoàn, nhưng cũng được gửi đến toàn thể cộng đoàn Kitô hữu.

+ Kết luận

Vậy, “phải canh thức”! Đang khi tiến đi trong thế giới của đêm đen, người tín hữu được mời gọi thực hiện ơn gọi của mình và ân huệ đã nhận, đó là được làm con cái ánh sáng, mắt đăm đăm hướng về ngày chủ trở lại và về “ngày” đang đến. Sự canh thức ở đây mang tính cánh chung: hoàn toàn quay hướng về phía trước, về biến cố Đức Kitô sắp ngự đến trong tương lai. Theo nghĩa này, người tín hữu không thể canh thức nếu không chấp nhận chiến đấu (Rm 13,11tt; các vũ khí: 1 Tx 5,6-8; 1 Cr 16,13; Ep 6,10-20; 1 Pr 5,8t). Canh thức như thế là ngay từ bây giờ, sống trước đời sống tương lai (x. Rm 13,13). Thái độ cánh chung không khiến người ta phủ nhận thế giới, nhưng giúp người ta có một thái độ tự do lành mạnh, thanh thoát đối với tất cả những gì thuộc về thế giới, không sợ hãi loài người, không tìm danh vọng, không khắc khoải trước gian khó, đau khổ và cái chết (x. 1 Cr 4,3t).

5.- Gợi ý suy niệm

1. “Canh thức” trong đêm tối của thời gian hiện tại trong khi chờ đợi Đức Giêsu trở lại, chính là đang sống trong tư cách những người đã được giải thoát, bởi vì bất cứ khi nào đến, Đức Giêsu sẽ bằng lòng nếu thấy các môn đệ của Người đang sẵn sàng với Người. “Canh thức” chính là một cách thức thường hằng người Kitô hữu theo mà sống trong thế giới.

2. Canh thức như thế cũng là sống trong niềm vui. Niềm vui này không hề lệ thuộc những chuyện thay đổi của thế gian, vì nó trào vọt ra từ một nguồn mạch vĩnh hằng là chính Đức Giêsu Phục Sinh. Canh thức như thế còn là sống trong bình an, cho dù có gặp phong ba bão táp, bởi vì chính Đấng Phục Sinh đã cam đoan: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy” (Ga 14,27). Cuối cùng, canh thức như thế cũng là sống niềm hy vọng, bởi vì cái nhìn của chúng ta luôn nhắm về phía trước, về thế giới đang đến, về “ngày” đang lại gần.

3. Tác giả Lohmeyer mô tả canh thức bằng câu nói: “Đời sống của người đạo đức không diễn tiến trong những trạng thái thiu thiu ngủ, những giấc mơ và những đam mê, nhưng trong nỗ lực dấn thân luôn luôn chăm chú và điều độ của con tim nhân loại”. Còn Schweizer định nghĩa canh thức là như “thái độ trong đó con người luôn luôn chờ đợi với tinh thần trách nhiệm Đức Chúa đến và không để mình bị sao nhãng trong thái độ sẵn sàng thường hằng này đối với Ngài bởi bất cứ điều gì”. Đấy là cách tốt để sống giáo huấn của Đức Giêsu.

 

8. Chú giải của Noel Quesson

 

Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức

Từ “Hãy tỉnh thức” được Chúa Giêsu nhắc lại bốn lần trong Tin Mừng Maccô.

Đó là lệnh truyền Đức Giêsu, ngay trươc lúc Người lên đường. Bởi vì, trong Tin Mừng Maccô, cuộc Thụ Khổ khởi sự liền sau trang này. Lạy Chúa, Chúa nhấn mạnh, Chúa yêu cầu chúng con luôn luôn sống tỉnh thức “Tỉnh thức”. Khi sắp tới vườn Ghétsêmani. Chúa thấu biết không một môn đệ nào của Chúa đứng vững. Thế nên, Chúa cố đề phòng cho họ: Anh em phải tỉnh thức, tỉnh thức, tỉnh thức!

Lạy Chúa, xin hãy lặp lại cho chúng con lời căn dặn như thế.

“Anh em phải coi chừng”. Đức Giêsu thường sử dụng từ này trong một bối cảnh cuộc “giao chiến”. Tình thức là để giao chiên. Tỉnh thức là chú ý đặc biệt, trong trường hợp nguy hiểm. Cần phải “coi chừng” để nghe lời Chúa (Mc 4,12), nếu không ta chỉ đứng bên lề mà để cho lời Chúa vuột qua. Cần phải “ coi chừng”, để ta giữ mình khỏi “men Pharisêu”, nếu không nó thấm nhiễn vào ta mà khong hay biết (Mc 8,15-12,38). Cần phải “coi chừng”, để không tin những kẻ báo trước tương lai, như thể họ nắm vững (Mc 13,5-13).

Thánh Phaolo sẽ sử dụng một thứ ngôn ngữ bi thiết để nói về thái độ tỉnh thức. Ngài đòi hỏi “thức dậy ngay” (Rm 13,11). Chính vì chúng ta đều dễ bị đờ đẫn nên cần phải nghĩ tình trạng mê mẩn sẽ xảy đến, khi ta lạm dụng nhiều thuốc ngủ. Đúng vậy, ta phải coi chừng trước tình trạng mê ngủ của lương tâm: Phản ứng tự vệ không còn hoạt động nữa... cũng như người lái xe vì uống quá nhiều, chỉ còn biết đâm đầu vào vật chắn cản. Như thế cần phải “dứt mình” ra khỏi tình trạng mê ngủ! Hơn nữa, để nói về thái độ “tỉnh thức”. Phaolô không ngần ngại sử dụng đến từ vựng về chiến tranh: Những “vũ khí” trang bị cho thái độ tỉnh thức (Rm 13,12; Ep 6,10; 1 Tx 5,6-8).

Lạy Chúa Giêsu. Hôm nay, xin hãy lặp lại cho con “phải coi chừng”. Đời sống Kitô hữu luôn là cuộc giao chiến với những quyền lực, xem ra mãnh liệt hơn chúng con. Lạy Chúa xin giữ gìn chúng con biết tỉnh thức, cho giờ Chúa xuất hiện.

Vì anh em không biết khi nào ngày giờ ấy đến...

Môn đệ của Chúa Giêsu đặt cho Ngài câu hỏi: “Bao giờ các sự việc ấy xảy ra, và khi tất cả sắp đến tận cùng thì có điềm gì báo trước?” (Mc 13,4). Đức Giêsu không trả lời câu hỏi này. Các sấm ngôn đủ loại và thuộc mọi thời đại, đã báo trước ngày thế mạt cả rồi! Ở đây, Ngài trả lời một lần dứt khoát: “Anh không biết được bao giờ”. Đức Giêsu không muốn ta mất giờ mơ tưởng về quá khứ hay tương lai. Ngài đòi hỏi chúng ta phải tập trung vào “giây phút hiện tại”, vào chính ngày Hôm nay: Vậy anh em hãy tỉnh thức, vì anh em không biết... Anh em hãy luôn sẵn sàng.

Cha Charles de Foucault đã coi lời sau đây như châm ngôn sống: “Cố sống mỗi ngày, như thể chiều tối nay bạn sẽ chết”.

Cũng như người kia trẩy phương xa, để nhà lại giao trách nhiệm cho đầy tớ trông coi, chỉ định cho mỗi người một việc...

Thiên Chúa xem ra “vắng mặt”, như thể người kia trẩy phương xa! Đây là hình ảnh đẹp, diễn tả chọn vẹn cảm tình mà ta thường nghiện thấy: Lạy Chúa, sao Chúa ở xa quá! Chúa như là kẻ hoàn toàn khác lạ! Nhưng ta nên lưu ý, đối với Đức Giêsu, thời gian vắng mặt nêu trên, trước hết không phải là thời gian bất hạnh hay âu lo, nhưng là một thời mang đầy trách nhiệm: Mỗi người đều nhận một phận vụ, một công việc. Hầu như ta có cảm tưởng rằng ông “Chủ” này cố ý đi xa, để tạo cho các đầy tớ ông, một tầm quan trọng, để họ khỏi phải lúc nào cũng ám ảnh tới ông: Nào, hãy đảm nhận lấy trách nhiệm. Các bạn đâu còn là trẻ con nữa. Hãy quyết định, hãy suy nghĩ. Tôi tin tưởng các bạn … Tôi giao cho các bạn “mọi quyền hành”! Lạy Chúa xin giúp chúng con sống xứng đáng với trách nhiệm đã được Chúa giao phó: Trong gia đình, trong phạm vi nghề nghiệp, nơi khu phố, trong đoàn thể này hay hiệp hội kia trong Giáo Hội.

Ông ra lệnh cho người giữ cửa canh thức …

Ban đêm, người giữ của có một tầm quan trọng đặc biệt, bởi vì bổn phận của ông là phải nghiêm chỉnh “canh thức”, đề phòng để ngôi nhà khỏi bị tấn công bất ngờ, không mở cửa cho bất cứ ai nhưng lại là người đầu tiên mở cửa đón tiếp ông chủ khi ông trở về. Thánh Maccô quen đề cao vai trò của Phêrô trong nhóm Mười Hai. Khi phân biệt được người giữ của với các đầy tớ khác, Đức Giêsu muốn lưu ý rằng, các vị chủ chăn trong Giáo Hội được mời gọi một cách hết sức đặc biệt phải “tỉnh thức”: Phêrô vị Giáo Hoàng, các Giám mục là những người đầu tiên có trách nhiệm tỉnh thức đối với toàn thể dân Chúa, cũng như người giữ cửa có bổn phận chăm sóc toàn thể ngôi nhà này. Lạy Chúa, con cầu xin Chúa cho những vị đang nắm giữ vai trò đó trong Giáo Hội hôm nay.

Vậy anh em hãy tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến.

Đức Giêsu đã nói đến thời gian vắng mặt … Ngài cũng loan báo thời gian trở lại … Chúng ta sẽ đi tới cuộc gặp gỡ này. Một ngày kia con sẽ gặp gỡ Chúa, mặt đối mặt và con sẽ thực sự nhận biết Chúa, như Chúa biết con (1Cr 13,12). Cuộc đời Kitô hữu là một hành trình tiến tới cuộc gặp gỡ đó.

Ông chủ sẽ trở về … vào lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng.

Thật là kỳ lạ khi ta nhận thấy Đức Giêsu chi gợi lên một cuộc trở về vào lúc đêm khuya! Thế mà tại Đông phương xưa kia, vì sợ nguy hiểm trên đường đi, người ta thường không du hành vào ban đêm. Chi tiết hơi kỳ di trên đây, mang một ý nghĩa biểu tượng, Kinh Thánh thường nhắc đi nhắc lại. Đêm khuya, đó là thời gian của bóng tối, thời gian của “quyền lực tối tăm” (Lc 22,23; Mc 14,49; Ep 6,12). Do đó đêm tối cũng chính là thời gian của cám dỗ, thời gian của thử thách. Vì thế phải đặc biệt tỉnh thức lúc đêm khuya. Cựu Ước mong đợi thời của Đấng Thiên sai như giai đoạn mà bóng tối sẽ chấm dứt, để nhừng lại chỗ cho ánh sáng. Để diễn tả nỗi lòng mong ước, ngôn sứ đã cất tiếng nói: “Hỡi người canh thức, đêm còn mấy chốc nữa?” (Is 21,11). Và để tăng cường niềm hy vọng, Thánh Phaolô đã nói: “Đêm sắp tàn, ngày gấn đến” (Rm 13,12). Để loan báo Noen, vào thánh lễ nửa đêm, Giáo Hội hát lên cho chúng ta bài thơ tuyệt diệu của I-sai-a (9,1). “Dân đi trong tăm tối đa thấy bừng lên một luồng sáng lớn”. Và trong mùa vọng, ta vẫn thường ca lên: các dân tộc bước đi trong đêm dài, những ngày sắp tới … Đây là lúc hãy ngẩng đầu lên!

Hãy tỉnh thức trong đêm tối. Hãy tỉnh thức trong những khó khăn … Hãy nắm giữ hy vọng, ngay cả khi ta ở trong đêm đêm đen … Hãy đứng vững, khi mọi sự như sụp đổ. Như một bình minh mới đang xuất hiện trong đêm tối đời ta. Thiên Chúa sắp đến để cứu độ dân Người. Chính nhờ đêm tối ta dễ tin vào ánh sáng. Đề tài này Gioan Thánh Giá rút ra được một xác quyết: Thiên Chúa vẫn có đó là nguồn tín nhiệm, hiện diện mãi mãi, nhưng vẫn còn là đêm tối.

Lúc gà gáy …

Maccô, thư ký riêng của Phêrô đã đưa ra một so sánh tực tiếp. Ngay trước khi chịu khổ hình, trước lúc vào vừơn Ghét-sê-ma-ni, nơi Phêrô sẽ ngủ thay vì phải tỉnh thức trước khi bước vào đêm bi thảm mà tiếng gà sẽ nhắc cho Phêrô biết mình thiếu tỉnh thức (Mc 14,72), thì Đức Giêsu nói cho “người giữ cửa” của Giáo Hội cần phải tỉnh thức. Nhưng ta biết, ông thiếu thái độ đó. Ôi! lúc gà gáy, Phêrô mới nhận ra tôi lỗi và sự chối bỏ của mình! Điều đó cho ta nhận ra rằng, Giáo Hội cũng mang tính nhân loại biết bao! Và điều đó mời gọi ta không nên thất vọng trước những yêu đuối của Giáo Hội.

Ông chủ có thể đến bất thần …

Thiên Chúa luôn đến bất thần, không ngờ, đột ngột! Hầu như có thể nói được rằng, đó là dâu hiệu của Thiên Chúa đích thực: Đấng hoàn toàn khác lạ! Mỗi lần ta tưởng mình đã xác định phạm vi của Thiên Chúa, thấu hiểu và đặt nhãn hiệu cho Người, chắc chắn là ta đã lầm lẫn về Thiên Chúa, đã lấy ước muốn ta làm thực tại. Lạy Chúa, xin giúp con biết mở rộng tâm trí đón nhận sự mới mẻ trong cách Chúa hiện diện. Xin giữ gìn chúng con luôn sẵn sàng trước việc Chúa đến viếng thăm cách bất ngờ.

Bắt gặp anh em đang ngủ.

Trước Thiên Chúa, ta vẫn thường mê ngủ … nên dễ sửng sốt. Cần phải thoát ra tình trạng mê ngủ thiêng liêng, lờ đờ đó. Cần phải nỗ lực tự tạo một lối sống linh hoạt, cương nghị, thay vì buông xuôi tới ù lì, mê ngủ. Lạy Chúa, xin giữ chúng con trong tình trạng tỉnh táo, luôn tỉnh thức.

Thầy nói với hết thảy mọi người là: Phải canh thức.

Đối với Đức Giêsu, sự “hiện diện” của Chúa vẫn ở đó, giữa các biến cố ta đang sống. Lạy Chúa xin giúp chúng con tỉnh thức, chú ý nhận ra sự hiện diện của Chúa. Xin giài thoát chúng con khỏi tình trạng mê ngủ, khô nhạt, dễ làm chúng con không nhận ra Chúa vẫn thường xuyên đến viếng thăm. Mùa vọng bắt đầu! Đây là thời gian “canh thức”…

 

9. Cửa trời hẹp lắm ai ơi!

(Suy niệm của Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP)

Chúng ta bắt đầu một chu kỳ phụng vụ mới, một năm phụng vụ mới, mùa đầu tiên của năm phụng vụ là Mùa Vọng. Mùa Vọng là mùa của hy vọng nở hoa, nếu chúng ta hiểu được nỗi chờ đợi của một em bé mong mẹ đi chợ về, nỗi chờ mong gặp lại một người thân yêu xa vắng, nỗi khát vọng của một người mẹ “bồng con mẹ ải chờ mong, cho lòng chinh phụ hóa thành vọng phu”, nỗi mong chờ của một người cha già Tin Mừng chờ đón con về… thì chúng ta sẽ hiểu được thế nào là Mùa Vọng.

Xưa kia, Mùa Vọng được gọi là mùa Át, “Át” là âm đầu tiên gọi tắt của tiếng “Adventus”, một tiếng La Tinh, có nghĩa là đến hay sắp đến. Với phong trào Việt hóa, có một thời lại được gọi là Mùa Áp, “Áp” có nghĩa là gần kề hay kề bên, cả hai cách gọi trên tuy cũng nói lên phần nào ý nghĩa của mùa này nhưng chưa được rõ ràng. Ngày nay với hai tiếng “Mùa Vọng” bao hàm ý nghĩa rõ hơn: mùa hy vọng, mùa trông đợi, mùa chờ mong. Hy vọng, trông đợi, chờ mong cái gì? Chờ mong Chúa Giêsu giáng sinh. Vì thế, Mùa Vọng đầu tiên có nghĩa là một thời gian chuẩn bị đạo đức để xứng đáng mừng lễ Giáng Sinh. Nhưng đến thế kỷ thứ VII, Mùa Vọng lại thêm một ý nghĩa nữa: trông đợi, chờ mong Chúa quang lâm, Chúa tái giáng để phán xét nhân loại.

Như vậy, Mùa Vọng là mùa nhắc lại thời gian nhân loại chờ đợi Đấng Cứu Thế đến cứu chuộc, và cũng nói lên nỗi chờ đợi của Giáo hội hôm nay: đợi Đức Ki-tô đến lần thứ hai khi lịch sử kết thúc để phán xét nhân loại. Ngoài ra, với mỗi người, Mùa Vọng cũng nhắc nhở chúng ta hãy chuẩn bị sẵn sàng chờ đón Chúa trong mỗi ngày của đời sống và đặc biệt trong ngày chết khi Chúa đến gọi chúng ta về với Ngài. Vì thế, lời Chúa của Chúa nhật thứ nhất Mùa Vọng nhắc nhở chúng ta ba điều: thứ nhất về ngày Chúa quang lâm, thứ hai về ngày chúng ta ra khỏi trần gian, thứ ba chúng ta phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng.

Về ngày Chúa quang lâm, tức là ngày Chúa tái giáng, Chúa trở lại trần gian, ngày phán xét chung. Ngày ấy không ai biết khi nào xảy ra, chỉ một mình Thiên Chúa biết mà thôi, một mình Ngài quyết định khi nào Ngài trở lại, và chỉ khi nào ngày ấy xảy ra thì người ta mới biết chứ không ai biết trước. Kinh Thánh ví ngày đó như kẻ trộm ban đêm, có bao giờ kẻ trộm lại báo trước ngày giờ nó đến ăn trộm đâu. Cũng vậy, ngày Chúa đến rất bất ngờ, hoàn toàn bất ngờ. Có thể hôm nay người ta cho rằng ngày Chúa quang lâm là thứ “cọp giấy” tức là không có hay nếu có cũng còn lâu lắm. Xin những ai có ý nghĩ như vậy thì hãy nhớ: lời Kinh Thánh đúng từng dấu phẩy, Kinh Thánh ứng nghiệm từng điều từng nét. Hơn nữa, ngày Chúa quang lâm là một chân lý chúng ta  tuyên xưng trong kinh Tin Kính và mỗi khi dự thánh lễ: “Chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến”.

Đàng khác, Tin Mừng hôm nay mặc dầu đề cập tới ngày tận thế nhưng cũng nhắc nhở chúng ta suy nghĩ về ngày tận số của mình, tức là về ngày chết của chính chúng ta. Chết là cái mốc cuối cùng mà bất cứ ai đã sinh ra ở đời này thì trước sau gì cũng sẽ tới ngày ấy, vì thế chúng ta phải nghĩ tới nó, chúng ta phải tính toán, phải nghĩ tới ngày chết của mình. Nói khác đi, chúng ta phải nghĩ tới cuộc sống vắn vỏi của mình nơi trần gian. Thật vậy, cuộc đời con người sánh với thời gian đã chẳng là gì, nhưng nếu sánh với sự sống vĩnh cửu lại càng mong manh hơn biết bao. Cuộc đới không những phù du mà còn kèm theo tính cách bất ngờ nữa, không ai biết được khi nào mình chết, ngày giờ chết là bất ngờ nên Chúa dạy chúng ta phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng.

“Tỉnh thức”, theo nguyên nghĩa là không ngủ, và cũng có nghĩa là sẵn sàng. Người ta có thể tỉnh thức để tiếp tục làm cho xong một công việc, hoặc để tránh một điều tai hại có thể xảy đến, cho nên, tỉnh thức còn có ý nghĩa là canh phòng, túc trực giao tranh, phấn đấu chống sự lơ đãng cẩu thả để đạt một mục đích đã nhắm. Đó chính là ý nghĩa của tiếng “canh thức” Chúa Giêsu căn dặn chúng ta: hãy chờ đợi Chúa đến trong tinh thần sẵn sàng, là luôn sống trong ơn nghĩa Chúa.

Chúng ta hãy nghĩ tới trường hợp của hai người vợ cùng có chồng đi vắng xa lâu năm: một người, tuy xa chồng nhưng tâm hồn lúc nào cũng tưởng nhớ tới chồng, vẫn coi như chồng đang có mặt ở nhà, bà săn sóc con cái chu đáo, gánh vác phần chồng, tiếp tục gây dựng gia đình như xưa. Còn bà kia, cũng nhớ tới chồng, nhưng chán nản, bỏ bê con cái, chểnh mảng việc nhà, lâu lâu lại tìm vui với những người đàn ông khác, khiến mọi người dị nghị đàm tiếu. Bây giờ, bỗng nghe tin cả hai người chồng đều trở về với gia đình, chắc hẳn hai người vợ trên sẽ đón tin này, mỗi người một cách khác nhau. Cũng thế, nếu chúng ta tỉnh thức mong chờ Chúa thế nào, thì Chúa sẽ đến với chúng ta như vậy. Cho nên, chúng ta phải chuẩn bị đón Chúa luôn luôn, để bất cứ lúc nào Chúa đến chúng ta cũng sẵn sàng: “Cửa trời hẹp lắm ai ơi, muốn vô thì phải ép mình chớ quên”.


10. Mong đợi Chúa

(Suy niệm của Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP)

Năm mới theo dương lịch, bắt đầu vào ngày 1 tháng Một mỗi năm. Năm mới theo âm lịch, bắt đầu vào ngày 1 thánh Giêng. Năm mới theo phụng vụ, bắt đầu vào ngày Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng. Mừng lễ Chúa nhật thứ nhất Mùa Vọng là chúng ta bước vào một năm phụng vụ mới.. Như vậy, Mùa Vọng là mùa xuân của năm phụng vụ, từ đó phát sinh hy vọng. Trong mùa xuân, cây cối trổ sinh lộc non lá mới, bắt đầu kết nụ đơm hoa chuẩn bị cho một mùa thu hoạch mới. Và như thế mùa xuân cũng là mùa hy vọng, đó là thời gian trông chờ, mong đợi.

Đối với niềm tin của chúng ta, Mùa Vọng thực sự là mùa trông chờ, mong đợi. Lòng trông đợi mỗi lúc một rộn ràng hơn khi càng gần lễ Giáng Sinh; đồng thời mang nhiều sắc thái và mức độ khác nhau tùy tâm trạng mỗi người: người ta đợi Nô-en như một dịp để ăn chơi, để giao thiệp; đợi Nô-en như một cơ hội "nhất cử lưỡng tiện": tiễn năm cũ và đón chờ năm mới may mắn, phát đạt hơn như phần đông tín hữu các nước theo dương lịch. Hoặc đợi Nô-en theo đúng tinh thần Tin mừng là đón Đấng Cứu Tinh nhân loại. Còn chúng ta, chúng ta mong đợi gì? Niềm trông đợi của chúng ta có ý nghĩa nào?

Chúng ta có thể trả lời: Chúng ta mong đợi Chúa đến. Ý nghĩa "Chúa đến" thường được hiểu ba cách: - Chúa đến trong lịch sử nhân loại - Chúa đến trong ngày thẩm phán chung hoặc riêng - Chúa đến trong tâm hồn mỗi người. Nhiều lúc chúng ta có khuynh hướng coi cả ba ý nghĩa này đều xa lạ với tư tưởng mong đợi. Thực vậy, trong lịch sử, Chúa đã đến từ hai ngàn năm và hiện giờ chúng ta đã kỷ niệm ngày sinh của Chúa từng mấy chục lần trong đời sống rồi. Còn trong ngày chung thẩm, trong cái chết của mỗi người thì sao? Dĩ nhiên Chúa đến, nhưng chẳng lẽ cứ ngồi mà lo sợ chờ chết ư? Cũng phải tạm quên cái chết để vật lộn với cuộc sống chứ? Còn Chúa đến trong cuộc sống mỗi người, thì ngày nào chúng ta chẳng đón Chúa trong kinh lễ, trong giờ cầu nguyện sớm tối? Thế thì chúng ta mong đợi cái gì nữa?

Giáo Hội dạy chúng ta vẫn phải mong đợi. Và hàng năm Giáo Hội tổ chức Mùa Vọng, không phải chỉ cốt để chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh, không phải chỉ dạy chúng ta gây dựng tâm tình mong đợi trong mùa đó, nhưng Giáo Hội muốn nhân không khí Giáng Sinh dạy chúng ta phải có tâm tình mong đợi thường xuyên, phải mong đợi Chúa hàng ngày: Chúng ta mong đợi Chúa trong ngày chúng ta từ giã cuộc sống để về với Chúa. Đó cũng là một biến cố đích thực và có ý nghĩa.

Kinh Thánh và giáo lý dạy cho chúng ta biết: mỗi người có hai kiếp được sống và phải sống: một đời sống tạm bợ và một đời sống vĩnh cửu; một đời sống hiện tại và một đời sống tương lai; một đời sống hành hương và một đời sống quê thật; một đời sống trần gian và một đời sống thiên đàng hay hỏa ngục. Từ kiếp sống này qua kiếp sống kia, mỗi người phải qua sự chết duy có một lần, đó là lần bái yết Chúa đầu tiên và duy nhất. Đành rằng có một ít người được ơn lạ chết đi sống lại hai lần, như La-da-rô hay con trai bà góa thành Na-im hay một vài trường hợp nào đó, nhưng hầu hết nhân loại chỉ chết có một lần, vì kiếp sống tạm bợ ở trần gian chỉ diễn ra có một lần.

Sự chết xảy tới với mỗi người được Kinh Thánh gọi là Chúa đến. Và việc Chúa đến này thường xảy ra bất ngờ, bí mật. Thiên Chúa muốn giữ bí mật như vậy để chúng ta luôn luôn sẵn sàng, và do đó luôn cố gắng sống tốt lành thánh thiện. Chẳng hạn như trong bài Tin Mừng hôm nay, thánh Mác-cô thuật lại dụ ngôn về đầy tớ phải canh thức đợi chủ về: " Anh em phải canh thức, vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến". Còn thánh Mát-thêu thì nói rõ: "Anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em sẽ đến". Trong cả hai trường hợp, ý nghĩa đều rõ ràng là Chúa Giêsu nói về chính mình Ngài.

Chính vì yếu tố bất ngờ đó mà Chúa dạy chúng ta phải luôn canh thức và sẵn sàng. Bởi vì cuộc đời con người đem so sánh với thời gian đã là một cái gì tạm bợ. Nhưng nếu đem so sánh với sự sống vĩnh cửu, thì nó càng mong manh hơn biết bao. Người ta đã từng ví von: đời người như hơi nước dễ tan, như hơi thở qua mau, như cánh chim lưng trời mất hút, như bông hoa sớm nở chiều tàn. Cuộc đời không những phù du mà còn kèm theo tính cách bất ngờ nữa: không ai biết khi nào mình từ biệt cõi đời, như kinh nghiệm vẫn minh chứng và Kinh Thánh đã nói tới từ khi có con người.

Nhìn chung lại, đoạn Tin mừng này nêu chủ đề: Chúa sẽ đến, nhưng chúng ta không biết ngày nào, vậy phải canh thức để được sẵn sàng đón Ngài khi Ngài đến. Canh thức sẵn sàng như người đầy tớ hoàn thành nhiệm vụ được trao phó, như các trinh nữ khôn ngoan cầm đèn đi đón chàng rể, như người được trao vốn đem kinh doanh sinh lời lãi, và cuối cùng bằng đời sống yêu thương phục vụ. Đó là cách thế chờ đợi Chúa đến.

Mùa Vọng là mùa trông đợi. Trông đợi Chúa đến lần thứ hai trong ngày tận thế. Nhưng cũng là trông đợi giây phút cuối cùng của mỗi người khi ra đi gặp Chúa. Chúng ta đã chuẩn bị hành trang gì cho giây phút gặp gở ấy và có canh thức sẵn sàng chu toàn bổn phận mà Chúa trao cho hay không, để ngày Chúa đến là một niềm vui chứ không phải nỗi buồn, và chúng ta gặp Thiên Chúa tình yêu chứ không phải Thiên Chúa phán xét. Chúng ta canh thức mong chờ Chúa thế nào thì Chúa sẽ đến với chúng ta như vậy. Cho nên, chúng ta phải luôn sống trong tư thế sẵn sàng đón Chúa.

Các bài mới
Các bài đã đăng