Suy niệm Lời Chúa
Các Bài Suy Niệm Chúa Nhật 14 TN năm A
Đăng lúc: 15:08 | 06/07/2017
Lượt xem: 84
Chính sự khiêm nhường thẳm sâu làm chứng quyền năng vô biên của Thiên Chúa. Thông thường ở đời, quyền năng là để chiến thắng, để chế ngự, để đè bẹp. Trái lại, nơi Thiên Chúa, quyền năng là để để yêu thương, để tha thứ. Khiêm nhường là chế ngự được sức mạnh của mình. Đó mới chính là quyền năng thực sự mạnh mẽ...
Các Bài Suy Niệm Chúa Nhật 14 TN năm A

Các Bài Suy Niệm Chúa Nhật 14 TN năm A

Mt 11, 25 – 30

 

1. KHIÊM NHƯỜNG

Tgm. Ngô Quang Kiệt.

Chúng ta thường tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, phép tắc vô cùng. Khi tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, ta thường nghĩ đến một Thiên Chúa oai nghi bệ vệ, cao sang quyền thế, xa cách. Ta không nghĩ hay không dám nghĩ rằng Thiên Chúa thật rất khiêm nhường. Thực sự Thiên Chúa rất khiêm nhường.

Vì khiêm nhường nên Thiên Chúa ẩn mình trong vô hình. Ở đời, một người quyền thế chiếm rất nhiều không gian của người khác. Người quyền thế ở nhà lớn, ngồi ghế rộng. Sự hiện diện của họ khiến mọi người khép nép, nói năng mất tự nhiên, đi đứng phải nhìn trước nhìn sau. Nếu bây giờ Thiên Chúa hiện hình đứng giữa chúng ta. Chắc hẳn chúng ta chẳng thể ngồi thoải mái như bây giờ. Trái lại chúng ta sẽ quì sụp xuống, gục đầu, đấm ngực ăn năn. Nhưng Thiên Chúa đã che giấu dung nhan. Người ẩn mình trong vô hình để cho ta được tự do. Người nhường không gian cho con người. Người tự trở nên một Đấng nghèo hèn, bé nhỏ đến độ bị người đời quên lãng.

Vì khiêm nhường nên Thiên Chúa im lặng. Trong xã hội, người uy quyền thường nói nhiều. Người nhỏ phải nghe người lớn, người nhỏ có muốn nói cũng bị tiếng người lớn át đi. Thiên Chúa đã tự trở nên bé nhỏ. Người im lặng nhường lời cho con người. Người lắng nghe con người cả khi họ chỉ trích, chống đối, lên án Người. Người trở nên một Đấng bé nhỏ nghèo hèn, khép nép, im lặng trong thế giới ồn ào của loài người.

Vì khiêm nhường nên Thiên Chúa đã cúi xuống thân phận con người. Con người chẳng là gì mà Chúa vẫn thương. Người còn cúi xuống sâu hơn nữa trước những kẻ tội lỗi để nâng họ lên. Khi người ta cúi xuống trước một kẻ cao trọng, sự khiêm nhường ấy đáng nghi ngờ. Nhưng khi người ta cúi xuống trước một thân phận tội lỗi, nghèo hèn, sự khiêm nhường ấy rất chân thực.

Chính sự khiêm nhường thẳm sâu làm chứng quyền năng vô biên của Thiên Chúa. Thông thường ở đời, quyền năng là để chiến thắng, để chế ngự, để đè bẹp. Ai chống lại quyền lực, quyền lực sẽ nghiền nát người ấy. Trái lại, nơi Thiên Chúa, quyền năng là để chịu thua, để yêu thương, để tha thứ. Sức mạnh không ở nơi quyền lực. Quyền lực bộc phát là quyền lực không tự kiềm chế được. Trái lại, khiêm nhường là chế ngự được sức mạnh của mình. Đó mới chính là quyền năng thực sự mạnh mẽ.

Thiên Chúa vô hình. Có lẽ ta sẽ khó mà hiểu biết sự khiêm nhường của Thiên Chúa, nếu ta không nhìn thấy sự khiêm nhường của Chúa Giêsu.

Cuộc đời Chúa Giêsu là một cuộc đời khiêm nhường. Vì khiêm nhường nên Ngài không ngừng đi xuống. Từ trời cao Người đã hạ mình xuống thế. Từ thân phận là Thiên Chúa Người đã hạ mình xuống làm một người bình thường. Là Thiên Chúa cao sang, Người đã tự nguyện xuống làm một người dân dã nghèo hèn. Là thánh thiện vô cùng, Người đã tự nhận lấy thân phận tội đồ. Là Đấng hằng sống, Người đã tự nguyện chết đi. Suốt cuộc đời, Người đã không ngừng cúi xuống những thân phận tăm tối, nghèo hèn, tội lỗi, bị loại trừ. Và một cử chỉ không thể nào quên là trong bữa tiệc ly, Người đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Người đã hạ mình xuống tận cùng, không còn có thể xuống hơn được nữa.

Vì Thiên Chúa khiêm nhường luôn tìm đường đi xuống, nên những ai kiêu căng tìm nâng mình lên sẽ chẳng bao giờ gặp được Người. Thiên Chúa khiêm nhường nên chỉ ai khiêm nhường nhỏ bé mới gặp được Người.

Hôm nay Chúa Giêsu tha thiết mời gọi: “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. Hãy ghi danh vào học trường Chúa Giêsu. Hãy học bài học khiêm nhường. Hãy học bài học Giêsu. Hãy học với Thầy Giêsu. Hãy bước theo Thầy Giêsu xuống những bậc thang khiêm nhường thẳm sâu. Ở bậc thang cuối cùng, Thiên Chúa đang chờ đợi ta, ta sẽ gặp được Người. Ta sẽ kết hiệp với Người. Ta sẽ rũ sạch mọi vất vả lo âu. Ta sẽ được bình an.

Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Xin uốn lòng con nên giống như trái tim Chúa. Amen.

GỢI Ý CHIA SẺ

1. Những dấu nào cho thấy sự khiêm nhường của Chúa?

2. Có quyền ăn nói, nhưng im lặng nhường lời cho người khác. Có vị thế cao, nhưng ẩn mình nhường chỗ cho người khác. Có dễ không?

3. Sức mạnh bùng nổ trên người khác. Và sức mạnh chế ngự chính mình. Đàng nào mạnh hơn?

4. Thiên Chúa tuyệt đối khiêm nhường. Khám phá này có tác động gì trên bạn không?

 

2. HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỜNG

Lm. Văn Hào

Ngày xưa, có một vị đạo sỹ khá nổi tiếng về sự thông thái và nếp sống đạo đức. Nhiều học trò từ khắp nơi tìm đến để xin thụ giáo nơi ông. Trong ngày khai môn, vị đạo sỹ quy tụ các đệ tử trong chiếc sân rộng trước nhà, ở giữa có một pho tượng bằng đá. Trước mặt các học trò, ông chẳng nói chẳng rằng, chỉ cầm trên tay một nắm đá, ném tới tấp vào pho tượng và nặng lời chửi rủa, sau đó ông ra hiệu giải tán. Chiều tối, ông lại quy tụ các học trò đến trước pho tượng và lặng lẽ cúi đầu xin lỗi vì hành vi xúc phạm ban sáng.

Ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng kia, ông cứ lập đi lập lại hành vi ấy, ban sáng chửi bới pho tượng và trước khi đêm về ông lại cúi mình xin lỗi. Một người học trò sốt ruột hỏi ông ta: “Thưa thầy, chúng con đến đây để tầm sư học đạo mong thầy chỉ giáo, nhưng suốt cả tháng qua, thầy chẳng dạy chúng con điều gì, ngoài trừ mỗi một hành động thầy làm xem ra có vẻ ngớ ngẩn và vô nghĩa”. Bấy giờ, vị đạo sĩ mới nói với các học trò : “Tất cả bài học mà thầy muốn truyền đạt, nằm ở pho tượng kia. Chúng con hãy suy nghĩ và sống như vậy. Khi bị rủa xả, nó không giận, không cự cãi. Khi được người ta xin lỗi, nó cũng không vênh váo hay tự đại. Điều thầy muốn dạy bảo các con, là hãy sống hiền lành và khiêm tốn như thế.”

Hãy học với ta, vì ta hiền lành và khiêm nhường

Bài học Chúa dạy chúng ta hôm nay cũng là hãy sống tinh thần hiền hòa và khiêm nhường. Nhưng, chúng ta không sao chép lại sự hiền lành và khiêm tốn từ nơi bức tượng vô tri vô giác kia. Chúng ta cũng chẳng cần học hỏi sự hiền lành và khiêm tốn nơi các vị hiền nhân quân tử mà sử sách đã nêu gương. Chúa mời gọi chúng ta hãy học hai bài học căn bản này nơi chính trường học của Ngài, phát nguyên từ trái tim nhân lành và yêu thương nơi Ngài. “Anh em hãy học cùng tôi, vì tôi có tấm lòng hiền lành và khiêm nhường”. Chúa Giêsu là vị tôn sư duy nhất và tuyệt hảo mà chúng ta cần phải đến để thụ giáo. Chỉ mình Đức Giêsu là chuẩn mẫu duy nhất để chúng ta noi theo. Ngài không dạy chúng ta bằng lý thuyết mô phạm, nhưng chính cuộc sống và cái chết của Chúa trên Thập giá đã diễn bày hai phẩm tính ấy một cách tròn đầy.

Vào năm 1944, Hit-le, tên trùm phát xít Đức đã cao ngạo dương oai muốn thôn tính cả thế giới và tập trung quyền bính trong tay mình. Một vị chính khách đã mỉa mai tự hỏi: “Con người đầy tham vọng và kiêu căng này đã chiếm biết bao lãnh thổ. Hắn sẽ dừng lại ở lãnh thổ nào đây ?”. Nghe vậy, một vị giáo sĩ trả lời: “Chắc chắn ông ta sẽ phải dừng lại trên một lãnh thổ rất chật hẹp, vỏn vẹn chỉ hai thước đất, đủ để chôn ông ta mà thôi”. Cũng tương tự như thế, hoàng đế Napolêon đã từng ngạo nghễ bắt giữ ngay cả Đức Thánh Cha Piô VII và giam Ngài ở đảo Saint Hélène. Vào cuối đời, ông bị thất trận tơi tả, và chính ông lại bị biệt giam tại hòn đảo ấy, nơi mà ông đã kiêu ngạo giam giữ vị sứ giả của Chúa.

Phi hành gia Gagarin của Liên Xô sau một vòng bay quanh bầu trời bao la đã kệch cỡm tuyên bố: “Tôi đã bay vào vũ trụ mênh mông và lùng sục khắp nơi mà chẳng tìm thấy một ông gìa nào có tên là Thiên Chúa đâu cả”. Sau lời phát ngôn đầy kiêu căng đó, con thuyền Spounik của ông đã nổ tung. Câu chuyện về con tàu Titanic chìm sâu giữa đại dương vào năm 1911 cũng giống hệt như vậy. Người ta đã kiêu ngạo treo một bảng hiệu trên thành tầu với hàng chữ ‘Ở đây không có Thiên Chúa’ (There is no God). Biến cố bi thảm ấy là một lời cảnh báo đối với sự cao ngạo của con người. Tất cả những dẫn chứng trên giúp chúng ta nghiệm ra rằng, ‘Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhu’.

Trong thư Rôma, thánh Phaolô đã viết: “Vì một người duy nhất mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, thì cũng nhờ một người duy nhất mà chúng ta được công chính hóa” (Rm 5,18). Con người đầu tiên ấy chính là Adam và tội gây nên cái chết cho con người chính là tội kiêu ngạo. Ngược lại, Đức Giêsu – Adam mới, đã phục hồi cho chúng ta phẩm giá làm con, qua sự khiêm tốn tự hạ nơi Người.

Trong thư Philipphê, Thánh Phaolô cũng đã viết một bài thánh thi nổi tiếng, họa lại bài ca về ‘Người tôi tớ đau khổ’ trong sách tiên tri Isaia để mời gọi chúng ta chiêm ngắm mẫu gương nơi Chúa Giêsu. Ngài viết : “Đức Giêsu Kitô vốn là Thiên Chúa, mà không nghĩ nhất thiết phải duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống như một phàm nhân. Ngài lại còn hạ mình vâng lời cho đến chết và chết trên cây Thập giá (Philip 2, 6-8). Bài học khiêm nhường Chúa nói hôm nay chính là bài học được hiển thị rõ nét nơi cái chết của Ngài.

Con chiên hiền lành bị đem đi xén lông mà không kêu ca mở miệng

Ở đời người ta vẫn thường hay nói ‘Nhịn là nhục’. Nhiều người vẫn chủ trương phải tranh đấu để có thể tồn tại trong xã hội. Giáo huấn mà Chúa Giêsu trình bày hôm nay xem ra rất nghịch thường và khó chấp nhận. “Ai tát con má bên phải, con hãy đưa luôn cả má bên trái, ai bắt con đi một dặm, con hãy đi với nó hai dặm”. Theo lý luận thông thường, chẳng ai dại dột làm thế. Nhưng đây là sự khôn ngoan của nước trời cho dù đối với thế gian, đó quả là sự khờ dại và điên rồ. Thánh Phaolô cắt nghĩa : “Cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn sự khôn ngoan của loài người. Cái yếu đuối của Thiên Chúa lại còn hơn sự mạnh mẽ của trần gian.” (1 Cor 1,25).

Trong bài giảng trên núi, Chúa Giêsu cũng đưa ra quy chuẩn về sự trọn lành mà chúng ta vẫn thường gọi là bản ‘Hiến Chương Nước Trời’. Một trong những mối phúc, những quy chuẩn căn bản của bản hiến chương ấy, là ‘Phúc cho những ai sống hiền lành’.

Khi đi vào trần gian, Chúa Giêsu đã đến rất âm thầm trong tĩnh lặng, mặc lấy hình hài của một thơ nhi nhỏ bé và yếu ớt. Ngài đã trải qua 30 năm tại Nazarét trong cuộc sống rất bình lặng, chung chia thân phận làm người giữa những dân quê chất phác và mộc mạc. Sự hiền lành ấy được thể hiện rõ nét hơn nơi cái chết của Chúa trên Thập giá. Ngài đã bị chửi rủa, bị lăng mạ, bị bêu xấu, nhưng Chúa tuyệt đối không cãi một lời, không đối lại một câu. Sự thinh lặng ấy không phải là một sự câm nín cách vô nghĩa, nhưng đó là một loại hình ngôn ngữ diễn bày sự hiền lành sâu thẳm nơi Ngài. Ngôn sứ Isaia đã phác vẽ dung mạo hiền từ của Đức Kitô, Đấng sẽ bị sát tế như một ‘Con chiên hiền lành bị đem đi xén lông mà không hề kêu ca hay mở miệng’.

Trong cuộc sống hôm nay, đây là hai bài học căn bản, vạch dẫn cho chúng ta con đường vươn tới hoàn thiện, nhưng quả là rất khó để thực hành. Ai trong chúng ta cũng có cái tôi to đùng, thích được người ta nể trọng. Mọi người đều biết rằng, Thập giá là lý tưởng của mọi Kitô hữu và Chúa Giêsu vẫn nhắc đi nhắc lại lời mời gọi của Ngài : “Ai muốn theo tôi hãy bỏ mình vác thập giá mình mà theo”. Biết thế, nhưng thực hành không phải là chuyện giản đơn.

Kết luận

Kinh điển Phật giáo có thuật lại một giai thoại. Một người kia mang đến dâng cho Đức Phật hai bó hoa, một bó cầm bên tay phải và một bó cầm bên tay trái. Ông đến dâng lên bó hoa cầm nơi tay trái. Đức Phật ngắm nghía một lát và nói với ông : “Hãy vứt đi”. Người đàn ông kia vứt bó hoa xuống đất và dâng cho Đức Phật bó hoa còn lại bên tay phải. Đức Phật cũng nói : “Hãy vứt xuống”. Người đàn ông không hiểu và hỏi lại: “Thưa Ngài, con đã vất cả hai bó hoa xuống đất rồi, con phải làm gì nữa ?”. Đức Phật mới trả lời: “Ta không bảo phải vứt những bó hoa này mà hãy vứt đi chính người đang cầm hoa”. Trong cuộc hành trình theo Chúa Giêsu, chúng ta hãy tập vứt bỏ chính mình, giống như Chúa Giêsu đã nêu gương. Ngài đã đi đến tận cùng của mầu nhiệm tự hủy và hôm nay Chúa cũng mời gọi chúng ta hãy sao chép lại cách sống của Ngài : “Anh em hãy học với tôi, vì tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng”.

 

3. HÃY NÊN BÉ MỌN

Lm JB Nguyễn Minh Hùng

Con ngợi khen Cha vì Cha đã giấu không cho những người khôn ngoan và thông thái biết, Cha lại mạc khải cho những người bé mọn. Vâng lạy Cha, vì ý Cha muốn như vậy” (Mt 11, 25). 

Trong lời cầu nguyện của mình, Chúa Giêsu nhắc đến những người “bé mọn”. Người “bé mọn” là ai mà lại được Cha yêu thương tỏ mình để mạc khải cho họ? Họ chính là người nghèo của Chúa. Họ là những người nhiệt thành đi tìm Chúa. Họ thấy mình cần Chúa, ước mong được Chúa ngự vào tâm tư mình. 

Vì thế, cái “bé mọn” mà Chúa ưu tiên tỏ mình không chỉ là nghèo vật chất, thiếu thốn cái ăn, cái mặc, mà còn bao gồm nhiều thái độ sống tốt như: sống siêu thoát trước vật chất, khước từ sự tham lam vật chất, khiêm nhường, đói tình thương, thiếu thốn đời sống tinh thần, bị cướp bóc văn hóa, bị tước đoạt từ vật chất, tình yêu đến nội tâm… Đúng hơn, họ là những người bé mọn trước thế gian, nhưng lớn lao trước Chúa.

Nếu người bé mọn trước thế gian được Chúa yêu thương mạc khải cho, thì ngược lại, người không bé mọn – họ được Chúa Giêsu gọi là “người khôn ngoan và thông thái” – sẽ xa Chúa diệu vợi. Nói nặng hơn, họ sẽ đui mù trước Chúa, bởi bị Chúa “che giấu” mầu nhiệm bản thân Người. Bằng câu chuyện cụ thể sau đây, ta có thể hiểu “người khôn ngoan và thông thái” mà Chúa Giêsu nói đến là ai.

Người đàn ông đến xin cho con trai ông được rước lễ trọng thể, nhân dịp giáo xứ chúng tôi tổ chức rước lễ trọng thể vào một ngày giữa tháng 7, dù con ông đang học giáo lý ở một giáo xứ khác. Tôi đồng ý với điều kiện, cha xứ, nơi mà em đang học giáo lý cho phép. 

Nếu chuyện chỉ có thế thì không còn gì đáng nói. Nhưng lần thứ hai, đến gặp tôi, ông cho biết, con ông học trường tư, nội trú, có tiếng là nghiêm khắc trong vấn đề kỷ luật và học tập. Đầu tháng 7, con ông tựu trường để vào lớp 12. 

Bình thường, trường đã nghiêm khắc. Bây giờ lên lớp 12, chắc chắn trường sẽ còn nghiêm khắc hơn. Con ông không dám và cũng không được phép nghỉ học bất cứ ngày nào. Trong khi tuần đầu của tháng 7 là tuần các em chuẩn bị rước lễ trọng thể ở giáo xứ chúng tôi tĩnh tâm. Nhưng vì luật của nhà trường như thế, người đàn ông đòi tôi phải cho em khỏi tĩnh tâm, và vẫn cho phép em cùng được rước lễ chung với các học viên khác.

Nghe xong câu chuyện, tôi buồn, thở hắt ra mà không biết phải nói lời nào. Chọn lựa của người Công Giáo thời nay là như thế sao: Sự học hành thay Thiên Chúa. Kiến thức ở đời thay lý lẽ đức tin. Giá trị trần thế thay giá trị Nước Trời. Cái chóng qua thay cho vĩnh cửu. Kiến thức đức tin bị đạp xuống hàng thứ yếu, đẩy kiến thức học vấn của đời tạm bợ vượt lên hàng chủ yếu. 

Kiến thức đức tin là đường lối của Thiên Chúa, là phương hướng dẫn con người đến gặp chính Thiên Chúa, lại bị đạp xuống hàng thứ yếu, có khác gì Thiên Chúa đã bị người ta đẩy xuống để cuộc đời vượt lên! Hóa ra đời mới là “Thiên Chúa” của họ, còn Thiên Chúa lại bị họ biến thành một thứ xa xí phẩm nào đó, có cũng được, không có cũng không sao. Mà kẻ loại chính Thiên Chúa không ai khác hơn là chính con cái trong nhà, là người Công Giáo chính hiệu, là chính con Thiên Chúa. 

Đáng thương cho lối suy nghĩ nông nổi dẫn đến cả một quyết định, cả một chọn lựa sai lầm lớn không thể nói hết. Người ta chấp nhận hình thức và sẵn sàng phục vụ thứ hình thức ấy một cách giả trá thay cho thực chất, thay cho lòng yêu mến Chúa thật. Chỉ cần đánh lừa lương tâm rằng, con tôi đã lãnh bí tích rồi, thế là đủ, chẳng cần để ý đến việc nó có hiểu biết gì về bí tích mà nó lãnh nhận hay không. 

Người đàn ông trong câu chuyện bên trên muốn trang bị cho con của ông giàu có về sự học hành, lớn lao về đường công danh, bảo đảm cho tương lai đời nó. 

Khi trang bị cho con mình, ông cũng đồng thời nghĩ tới ông, nghĩ tới gia đình ông bằng một giấc mơ thiên đàng trần thế về danh giá ở đời, về sự nổi nang, ngưỡng mộ trong ánh mắt mọi người xung quanh. 

Nhưng ông lầm. Tìm kiếm thông thái và khôn ngoan trần thế mà không tháp nhập trần thế vào sự cứu độ siêu nhiên, ông có thể tìm được thành công trần thế, nhưng chắc chắn đời đời vắng bóng siêu nhiên. 

Chỉ trong sự cứu độ siêu nhiên của Chúa, người ta mới đạt tới vĩnh cửu. Vì thế, nếu chỉ tìm kiếm trần thế, đó là sự đánh cắp đời mình, cắt đứt vĩnh cửu. Cắt đứt vĩnh cửu là làm ngắn đời mình. 

Chính ông đã tự gieo, cũng như đã gieo vào tâm tư của con ông lối suy nghĩ, lối sống làm ngắn đời mình. Ông đã đánh cắp đời mình đã vậy, lại còn đánh cắp đời con của ông. Nguy hiểm hơn khi sự đánh cắp này có dấu hiệu “di truyền”. 

Không biết có bi quan lắm không, nếu nói rằng, một khi con ông “thừa hưởng” thái độ đánh cắp ấy của ông, thì nó sẽ còn bao nhiêu lần đánh cắp như thế đến bao nhiêu thế hệ con người! Siêu nhiên mà vắng bóng, vĩnh cửu mà bị đánh mất, Thiên Chúa bị đẩy xa đời người, thông thái và khôn ngoan vẫn cứ là dốt nát. 

Qua lời cầu nguyện cùng Chúa Cha, “Con ngợi khen Cha vì Cha đã giấu không cho những người khôn ngoan và thông thái biết, Cha lại mạc khải cho những người bé mọn. Vâng lạy Cha, vì ý Cha muốn như vậy”, Chúa Giêsu dạy ta phải có thái độ phó thác tuyệt đối của một người có tinh thần nghèo khó trọn vẹn. 

Chỉ có trong ta tinh thần của một người nghèo, ta mới thấy mình chẳng là gì, chẳng có gì. Tất cả là bởi Chúa, phát xuất từ Chúa. Đối với Kitô hữu, chúng ta cần biết rằng, chính bản thân ta cũng chỉ là bụi đất, rồi sẽ trở về bụi đất. Tất cả những hy vọng, những tìm kiếm, những bươn chãi, những tranh giành, những vất vả, những hao mòn lặn lội mới có trong cuộc đời này… đều chỉ là hư không, tất cả chỉ là một trò ảo thuật. 

Ta không là chủ đời mình, càng không bao giờ là chủ những gì mình tạo ra. Cùng với sự tắt thở của thân xác, ngay lập tức, ta trở nên thối rữa, nhơ nhớp. Vì thế, Chúa Giêsu dạy ta phải có thái độ phó thác tuyệt đối cho Chúa như một người bé mọn, chẳng có gì. 

Phó thác tuyệt đối cho Chúa là làm giàu Thiên Chúa cho đời mình. Thiên Chúa là Vĩnh Cửu. Ai làm giàu Thiên Chúa, người đó bước vào vĩnh cửu. Vì thế, chỉ những ai biết làm giàu Thiên Chúa cho đời mình mới là người thật sự khôn ngoan. 

Cuộc đời mà ta đồng hành với nó, chỉ là người bạn bạc bẽo. Lẽ nào ta chọn sự bạc bẽo làm chúa thay Thiên Chúa đầy lòng xót thương, Đấng mà ta phải tôn thờ suốt đời! 

Đừng quên rằng, những người chỉ biết tìm kiếm sự thông thái, tìm kiếm khôn ngoan trần thế sẽ bị Chúa che giấu. Họ chỉ là những kẻ dại khờ, đui mù trước Chúa. 

Chúa chỉ mạc khải chính Chúa cho những người bé mọn. Đó là những người nghèo khó thật sự, là những người phó thác trọn đời mình trong tay Chúa thực sự. 

Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con. Chúng con xin lặp lại chính lời cầu nguyện của Chúa Giêsu mà Vinh danh Cha rằng: Chúng con ngợi khen Cha vì Cha đã giấu không cho những người khôn ngoan và thông thái biết, Cha lại mạc khải cho những người bé mọn. Vâng lạy Cha, vì ý Cha muốn như vậy, nên suốt đời, chúng con nguyện trở thành người nghèo của Cha, và là người bé mọn trong Nước Cha, biết phó thác đời mình trong tay Cha. Xin dẫn dắt chúng con đi tới, để chúng con hạnh phúc mãi mãi vì được ở trong nhà Cha. 

 

4. SUY NIỆM CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN – NĂM A

 Lm. Anthony Trung Thành

Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật. Với bản tình loài người, Ngài có đầy đủ mọi đức tính mà người đời cần học hỏi. Nhưng ít khi Ngài mời gọi con người học theo các đức tính của Ngài, có chăng cũng chỉ là gián tiếp thôi. Vậy mà, Tin mừng hôm nay lại cho chúng ta biết, Ngài trực tiếp mời gọi các môn đệ và mỗi người chúng ta hãy học theo Ngài để sống hiền lành và khiêm nhường. Điều đó, chứng tỏ, đức tính hiền lành và khiêm nhường hết sức quan trọng trong đời sống chúng ta.

Vậy, Đức Giêsu sống hiền lành và khiêm nhường như thế nào?

Trước hết, Ngài vốn dĩ là Thiên Chúa nhưng đã tự hạ mình xuống, làm người như chúng ta ngoại trừ tội lỗi. Như thế, Đức Giêsu cũng chấp nhận mang nơi mình sự thấp hèn, yếu đuối, đau khổ của con người. Cụ thể, Tin mừng cho biết Đức Mẹ sinh Ngài trong hoàn cảnh thiếu thốn, rét mướt, bị người đời từ chối (x. Mt 2,7). Sau đó, Ngài sống với Thánh Giuse và Mẹ Maria trong tinh thần khiêm nhường vâng phục (x. Mt 2,51).

Khi ra giảng đạo, Ngài nêu cao tinh thần hiền lành và khiêm nhường. Ngài dạy các môn đệ hãy trở nên như trẻ nhỏ: “Nếu các con không trở nên như trẻ nhỏ, các con không được vào nước trời.” (Mt 18,3). Trong bài giảng về hiến chương nước trời, Ngài tuyên bố: “Phúc thay ai hiền lành vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.” (Mt 5,4). Tin mừng hôm nay cho chúng ta biết, Đức Giêsu tạ ơn Chúa Cha vì Người đã quý chuộng những kẻ bé mọn và khiêm nhường. Chính Người đã tiết lộ bí mật của Người cho họ trong khi lại giấu không cho kẻ khôn ngoan và thông thái biết những điều ấy (x. Mt 11,25). Rồi, Ngài mời gọi mọi người sống hiền lành và khiêm nhường như Ngài: “Hãy học cùng Ta vì ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”(Mt 11,29). Khi dân chúng tôn Ngài lên làm vua, Ngài khiêm nhường không đón nhận như họ tưởng mà trái lại, Ngài lánh lên núi cầu nguyện cùng Thiên Chúa Cha (x. Ga 6,15).

Trong bữa tiệc ly, trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Ngài đã thể hiện sự khiêm nhường cách tột cùng khi cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Đồng thời, Ngài dạy các môn đệ hãy rửa chân cho nhau (x. Ga 13,14). Trong ngày khải hoàn vào Thành Giê-ru-sa-lem, mặc dầu được dân chúng tung hô, nhưng Ngài vẫn khiêm nhường ngồi trên lưng lừa. Cử chỉ đó đã được tiên tri Isaia báo trước mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc thứ nhất: “Người khiêm tốn ngồi trên lừa con, con của lừa mẹ. Người đã loại bỏ các chiến xa khỏi Ép-ra-im, và ngựa khỏi Giê-ru-sa-lem. Cung tên chiến trận sẽ được phá huỷ. Người sẽ công bố hoà bình cho các dân tộc”(Dcr 9,9-10).

Ngài hiền lành khi không kết án người phụ nữ ngoại tình (x. Ga 8,2-11). Ngài hiền lành như người mục tử đi tìm con chiên lạc (x. Lc 15,3-7). Ngài hiền lành như người cha đợi chờ đứa con đi hoang trở về (x. Lc 15,1-32). Ngài hiền lành khi để cho Giuđa, kẻ phản bội hôn lên má mình và để cho quân dữ bắt trói đem đi (x. Mc 14: 43 -50; Lc 22: 47 -53; Ga 18: 3-11 ). Ngài hiền lành khi không có một phản ứng gì trước cảnh dân chúng nhạo cười hay bị kết án bất công. Đặc biệt, Ngài chấp nhận những đòn roi, chịu đội mạo gai, chịu đóng đinh trên thập giá…tất cả đều thể hiện sự hiền lành và khiêm nhường của Ngài.

Chúng ta không chỉ thấy đức tính hiền lành và khiêm nhường nơi Đức Giêsu mà còn thấy đức tính hiền lành và khiêm nhường nơi Đức Maria và các Thánh.

Nơi Đức Maria: Khi được Thiên thần Gabriel chào “Bà đầy ơn phúc” và cho Mẹ biết Thiên Chúa đã chọn Mẹ làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Đức Maria đã thưa với Thiên Thần rằng: “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên thần truyền”(Lc 1,38). Rồi Mẹ quy hướng tất cả những gì mình có được về cho Thiên Chúa bằng lời kinh Magnificat (x. Lc 1, 46-55). Từ đó, Mẹ sống một cuộc sống phó thác trọn vẹn trong bàn tay quan phòng của Thiên Chúa bằng việc khiêm nhường chấp nhận mọi đau khổ sẽ đến với mình: sinh con trong hang đá nghèo hèn; đem con trốn sang Ai-cập; lạc mất con trong đền thờ; thấy con vác thập giá và cuối cùng là chấp nhận đứng nhìn Con yêu dấu chết tất tưởi trên thập giá trước những kẻ nhạo báng Người.

Hầu hết các thánh cũng đã sống hiền lành và khiêm nhường. Xin được đơn cử một số các thánh sau đây:

Thánh Giuse: Khi biết Mẹ có thai, nhưng vì bản tính hiền lành và khiêm nhường nên Ngài không tố cáo Mẹ mà dự định âm thầm bỏ trốn. Ngài khiêm nhường vâng lời đón Đức Mẹ về nhà làm vợ mình, đưa Đức Giêsu trốn sang Ai-cập và lại đưa Mẹ con về cho dù lệnh truyền đó chỉ là lời của Thiên thần trong giấc mơ. Suốt cuộc đời của Thánh Giuse, Ngài đã sống hiền lành và khiêm nhường trong tinh thần phục vụ chương trình của Thiên Chúa nơi Đức Maria và Chúa Giêsu một cách âm thầm.

Thánh Gioan Tẩy Giả: Khi được dân chúng ca tụng vì tưởng Ngài là Đấng Cứu Thế, là Đấng phải đến, thì Gioan đã khiêm nhường giải thích rằng: “Tôi là tiếng người hô trong hoang địa… Đấng đến sau tôi cao trọng hơn tôi, tôi không xứng đáng để xách dép cho Người” (Lc 1,23-27). Vì biết sứ mạng của mình chỉ là người dọn đường, nên khi Đức Giêsu đến, Thánh Gioan đã âm thầm rút lui : “Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi” (Ga 3, 30).

Thánh Phêrô cũng đã sống rất khiêm nhường. Sự khiêm nhường đó được thể hiện qua những hành động sau đây: Khi Ngài vâng lời thả lưới và đánh bắt được rất nhiều cá (x. Lc 5, 1-11). Khi thấy “mẻ cá lạ lùng”, Phêrô đến sụp lạy dưới chân Chúa và thưa Người rằng: “Lạy Thầy, xin hãy tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi” (Lc 5,8). Khi lún xuống nước, ông kêu xin Chúa rằng: “Lạy Thầy, xin cứu con” (Lc 14,30). Sau khi chối Thầy ba lần, ông đã ra ngoài ăn năn khóc lóc (x. Lc 22,62). Khi chịu chết tử đạo, ông xin được đóng đinh đầu lộn ngược xuống đất vì nghĩ mình không xứng đáng để nên giống Thầy mình. Như vậy, Phêrô là một vị thánh hết sức khiêm nhường.

Thực tế trong xã hội hôm nay, chúng ta thấy đâu đâu cũng có bạo lực xảy ra: nơi gia đình, nơi trường học, nơi các cơ quan công quyền, ngoài xã hội. Người ta vẫn cứ muốn giải quyết mọi thứ bằng bạo lực. Vì thế, đức tính hiền lành và khiêm nhường hầu như vắng bóng, không được chú trọng, không được để ý lưu tâm. Không những thế, nhiều khi người ta còn cho rằng: người sống hiền lành là người đần độn, hèn nhát; người sống khiêm nhường thì được được coi là tự ti, rụt rè, biếng nhác. 

Nhưng xét về phương diện tu đức và dưới nhãn quan của Kitô giáo, thì hiền lành và khiêm nhường luôn là hai đức tính nền tảng cần thiết cho bản thân, gia đình, Giáo hội và xã hội. Vì khiêm nhường là mẹ của các nhân đức khác, là nền móng để xây dựng đời sống thiêng liêng. Người sống hiền lành thường để lại nhiều điều tốt cho hậu thế, như người ta nói: “Cha mẹ hiền lành để đức cho con.” Người hiền lành và khiêm nhường luôn biết sống hoà thuận với tất cả mọi người, coi trọng mọi người, không phân biệt sang hèn giàu nghèo. Người khiêm nhường và hiền lành thì không làm hại người khác. Người hiền lành và khiêm nhường luôn đem lại niềm vui và bình an cho mọi người. Không những thế, người hiền lành và khiêm nhường luôn được Chúa ban ơn (x. 1 Pr 5,5).

Trong cuốn Nhật Ký về Lòng Thương Xót của Thánh Nữ Faustina Kowalska, Chúa Giêsu nói với Thánh Nữ về nhân đức hiền lành và khiêm nhường rằng: “Con hãy đem đến Ta các tâm hồn hiền hòa, khiêm tốn và những tâm hồn trẻ thơ. Hãy nhận chìm họ vào đại dương Thương Xót của Ta. Những tâm hồn này giống Trái Tim hơn hết. Họ tăng nghị lực cho Ta để Ta bước vào cơn hấp hối đau thương. Ta thấy họ như những Thiên Thần trần thế, chầu chực quanh các bàn thờ của Ta. Ta đổ tràn trên họ những dòng thác lũ ân sủng. Duy chỉ những tâm hồn khiêm nhường mới có khả năng đón nhận ân huệ của Ta. Ta đặc biệt tín nhiệm nơi những tâm hồn đó.” 

Qua những trình bày trên đây chúng ta thấy Đức Giêsu, Đức Mẹ và các thánh đã quý trọng đức hiền lành và khiêm nhường. Mặt khác, người hiền lành và khiêm nhường mang lại nhiều lợi ích cho gia đình, xã hội và được Chúa thương ban ơn. Vậy, chúng ta hãy cố gắng học tập đức tính hiền lành và khiêm nhường của Đức Giêsu, Đức Mẹ và các thánh. Để được như vậy, trong những sinh hoạt thường ngày, qua các mối tương quan trong gia đình, ngoài xã hội chúng ta hãy dẹp bỏ tính nóng nảy để  tập sống hiền lành và khiêm nhường.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho mỗi người chúng con biết thực hiện lời dạy và gương sáng của Chúa để sống hiền lành và khiêm nhường, hầu mang lại sự bình an cho gia đình, Giáo hội và xã hôi. Amen.

 

5. TRI ÂN

Trầm Thiên Thu

Tri ân là một trong những cảm xúc mạnh mẽ nhất mà con người khả dĩ có được trong cuộc sống hàng ngày của mình. Động thái tri ân liên quan việc đền ơn đáp nghĩa bằng một cách nào đó. Cựu nghị sĩ Hạ viện Les Brown (sinh 1945, Hoa Kỳ) có cách ví von đơn giản mà thú vị: “Người ngồi trong bóng râm ngày hôm nay là nhờ đã trồng cây từ lâu về trước”. Người trồng đó có thể là chính mình hoặc một người nào đó, thường là người khác đã trồng cho chúng ta được hưởng.

Tri ân là biết ơn, trái ngược với vô ơn. Con người chẳng có gì, tất cả đều do Chúa ban, nhưng con người lại làm toán trừ rất nhanh: vô ơn! Mười người cùi được Chúa Giêsu chữa lành, nhưng chỉ có một người quay lại để cảm ơn, người đó là người ngoại giáo (Lc 17:11-19); bao người được Chúa Giêsu thi ân, nhưng không có ai giúp Ngài khi Ngài phải vác Thập Giá, chỉ có một người ngoại đã làm điều đó: ông Si-môn, người Ky-rê-nê (Mt 17:32; Mc 15:21; Lc 23:26); không ai dám lên tiếng bênh vực Chúa Giêsu, chỉ có tướng cướp Dimas, người chịu đóng đinh với Ngài (Lc 23:40-41). Chúng ta vô cùng xấu hổ, thế mà vẫn ra vẻ “ta đây”. Thật tồi tệ!

Thi sĩ Ralph Waldo Emerson (1803-1882, Hoa Kỳ) có nhận định khá độc đáo: “Ai trong đời rồi cũng phải cảm ơn những khiếm khuyết của mình”. Sai lầm mà phải cảm ơn ư? Hãy nghe Tuân Tử lý giải: “Người chê ta mà chê đúng, đó là thầy ta; người khen ta mà khen đúng, đó là bạn ta; những kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta vậy”. Một dạng triết lý sống không phải ai cũng có thể hiểu ra và chấp nhận.

Cảm Ơn và Xin Lỗi là hai động thái cần thiết trong cuộc sống thường nhật, trong mọi lĩnh vực. Cảm ơn là tạ ơn, là cảm tạ, cảm ơn, biết ơn, nhớ ơn – tức là TRI ÂN. Sống trên đời, không ai là một ốc đảo, nghĩa là luôn có mối liên đới với người khác, bằng cách này hay cách khác, trực tiếp hoặc gián tiếp. Không ai lại không thọ ân của người khác, đơn giản nhất là nhờ ông bà, cha mẹ, anh chị em, hàng xóm, thầy cô, bạn bè,… Tục ngữ nói: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Đó là tiền nhân muốn nhắc nhở chúng ta về tâm tình tri ân.

Tri ân là biết tự trọng, biết tôn trọng người khác, là người có giáo dưỡng, là người khiêm tốn và trọng chữ tín. Trong cuốn sách “Những Lời Khai Thị Vàng Ngọc”, Tịnh Không Pháp Sư viết: “Hãy biết ơn những người khiển trách ta, vì họ giúp ta tăng trưởng định tuệ; hãy biết ơn những người làm ta vấp ngã, vì họ khiến năng lực của ta mạnh mẽ hơn; hãy biết ơn những người bỏ rơi ta, vì họ đã dạy cho ta biết tự lập; hãy biết ơn những người đánh đập ta, vì họ đã tiêu trừ nghiệp chướng cho ta; hãy biết ơn những người lường gạt ta, vì họ tăng tiến kiến thức cho ta; hãy biết ơn những người làm hại ta, vì họ đã tôi luyện tâm trí của ta; hãy biết ơn tất cả những người khiến ta được kiên định và thành tựu”. Những ý tưởng thật là cao thượng, ai sống đúng được như vậy thì đúng là vĩ nhân rồi!

Là một phàm nhân mà biết được như vậy thì thật đáng quý, đáng trân trọng. Có lẽ vì thế mà chúng ta không còn ngạc nhiên, và có thể hiểu được lý do Chúa Giêsu bảo chúng ta phải yêu kẻ thù: “Hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em” (Lc 6:28).

Luật yêu của Chúa Giêsu khác Cựu Ước – tương đương mà dị biệt, có vẻ “ngược đời” lắm, nhưng đó lại là nghịch-lý-thuận. Cựu Luật dựa trên nền tảng công bằng: “Mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, mạng đền mạng” (Xh 21:24; Lv 24:20; Đnl 19:21). Đó là luật báo phục tương xứng. Thế là “huề cả làng”, nhưng như vậy còn ở mức tiêu cực. Còn Tân Luật dựa trên nền tảng yêu thương, mà yêu thương thì phải tha thứ. Rất lô-gích. Tân Luật chủ động và tích cực. Quả thật, hiểu cho sâu xa thì ai cũng là ân nhân của chúng ta, dù ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp, nghĩa là chúng ta luôn phải biết ơn người khác. Đối với Thiên Chúa, chúng ta càng phải biết tạ ơn nhiều hơn và tạ ơn không ngừng. Tạ ơn phải được lặp đi lặp lại rất nhiều lần như một điệp khúc của bài trường ca vậy!

Thánh Vịnh gia đã tự vấn và tự trả lời: “Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ vì mọi ơn lành Người đã ban cho? Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Chúa” (Tv 116 [114-115]:12-13). Tạ ơn Thiên Chúa là bổn phận của chúng ta, và công việc chúng ta thể hiện đó chẳng thêm gì cho Ngài nhưng lại sinh ơn cứu độ cho chính chúng ta. Kỳ diệu quá!

Khi đề cập động thái tạ ơn, chúng ta có thể nhớ lại chuyện mười người phong hủi, chuyện thật chứ không là dụ ngôn hoặc ngụ ngôn. Cả mười người đều được sạch, nhưng chỉ có một người ngoại bang trở lại tạ ơn Chúa Giêsu (Lc 17:11-19). Như vậy, chắc chắn chín người kia là “đạo gốc”, chính đạo chứ không tà đạo, thế nhưng người ta vẫn “vô tư” vô ơn vì có lẽ tưởng mình, là “số dzách”, là “number one”. Ái chà, “ngon” dữ nghen! Câu chuyện này vừa “nhắc khéo” vừa “nguyền rủa” chúng ta về việc vô ơn bội nghĩa đối với Thiên Chúa và tha nhân.

Câu chuyện này cũng phần nào liên quan thánh ngôn của Chúa Giêsu khi Ngài nói về người môn đệ chân chính: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7:21). Có những người nhân danh Chúa mà nói tiên tri, trừ quỷ, làm nhiều phép lạ,… nhưng Chúa Giêsu lại không hề biết họ, và Ngài “phang” thẳng thừng: “Xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!” (Mt 7:23). Họ làm những việc “đạo đức tốt lành” mà Chúa Giêsu lại bảo là “điều gian ác”. Tại sao? Bởi vì giả hình và khoe mẽ trước bàn dân thiên hạ, làm lấy tiếng khen, lấy bằng tri ân, lấy danh dự khi tên mình được khắc vào bia đá,… Coi chừng “ý tứ” và “cách làm”, nếu không thì chúng ta rất có thể ở trong đám người ấy, và nếu như thế thì thật khốn nạn biết bao!

Còn những người khiêm nhường, họ biết mình và biết người, họ vui vẻ nhớ ơn chứ không ưu sầu. Thánh Vịnh gia lên tiếng mời gọi: “Nào thiếu nữ Sion, hãy vui mừng hoan hỷ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” (Dcr 9:9). Lý do để chúng ta vui mừng rất rõ ràng.

Thiên Chúa đến với chúng ta bằng nhiều cách, dạng phổ biến nhất là Hồng Ân. Thánh Ân của Ngài cũng lạ “phép lạ” luôn xảy ra trong cuộc đời hằng ngày của mỗi chúng ta – đơn giản mà cần thiết là không khí. Không cần phải rỉ tai nhau đi tìm “sự lạ” ở nơi kia, chỗ nọ. Phép lạ Thánh Thể hằng ngày không ngừng xảy ra ngay tại nhà thờ của giáo xứ hoặc cộng đoàn của mình, còn phải đi đâu mà tìm? Vì thế, chúng ta không thể không biết tạ ơn Ngài. Ngài còn đến với chúng ta qua từng người chúng ta gặp hằng ngày, và rồi chúng ta cũng phải biết ơn những người chúng ta gặp – dù họ là ai, bởi vì ai cũng có cái để chúng ta học hỏi – nếu họ đúng thì mình theo, nếu họ sai thì mình tránh. Lợi cả đôi đàng!

Rất nhiều thứ để chúng ta phải tri ân. Chúng ta tạ ơn Thiên Chúa vì Ngài là Đấng cứu thoát chúng ta khỏi kẻ thù và làm cho chúng ta được sống bình an và an cư lạc nghiệp: “Người sẽ quét sạch chiến xa khỏi Ép-ra-im và chiến mã khỏi Giêrusalem; cung nỏ chiến tranh sẽ bị Người bẻ gãy, và Người sẽ công bố hoà bình cho muôn dân. Người thống trị từ biển này qua biển nọ, từ sông Cả đến tận cùng cõi đất” (Dcr 9:10). Vả lại, “chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban” (Ga 3:27). Vậy thì tại sao không thể hiện lòng tri ân? Có những thứ người ta gọi là ngẫu nhiên hoặc tình cờ, nhưng thực ra đó là ý Chúa quan phòng, cho phép chúng ta gặp điều này hoặc sự nọ.

Bài ca nguyện tuyệt vời và cần thiết là Điệp Khúc Tạ Ơn. Tình Khúc này phải được lặp đi lặp lại hằng ngày trong suốt cuộc đời: “Lạy Thiên Chúa con thờ, là Vua của con, con nguyện tán dương Chúa và chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời. Ngày lại ngày, con xin chúc tụng Chúa và ca ngợi Thánh Danh muôn thuở muôn đời” (Tv 145:1-2). Thiên Chúa vui lòng thì có lợi cho chúng ta vô cùng. Tuy nhiên, chúc tụng Chúa khi cuộc đời chúng ta xuôi chèo mát mái thì không có gì đáng nói, nhưng thật “đáng nói” nếu cuộc đời chúng ta luôn gặp trắc trở, số kiếp luôn lận đận, gặp xui chứ chẳng hên, toàn là “họa vô đơn chí”.

Và Thánh Gióp là tấm gương sáng chói điển hình để chúng ta soi vào. Sau khi bị mất tất cả, từ tài sản tới con cái, bản thân ông cũng bị bệnh tật, mọi người đều xa tránh, nhưng ông vẫn tận trung với Thiên Chúa. Ông minh định rạch ròi: “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: xin chúc tụng danh Đức Chúa!” (G 1:21). Cả đời chúng ta cũng không thể so sánh với một góc nhỏ của Thánh Gióp. Có xách dép cho ông thì cũng chỉ đi xa xa thôi, mấy ai đủ “trình độ” mà đi gần ông Gióp. Có nhiều người đã nên thánh nhờ “xách dép” theo ông Gióp. Đau khổ (tinh thần hoặc thể lý) là “visa” để nên thánh đấy!

Ôi, đức tin của Thánh Gióp lớn lao quá! Nhưng niềm tin đó không mơ hồ hoặc ảo tưởng, mà hoàn toàn chính xác, đúng như Thánh Vịnh gia nói: “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương. Chúa nhân ái đối với mọi người, tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên. Lạy Chúa, muôn loài Chúa dựng nên phải dâng lời tán tạ, kẻ hiếu trung phải chúc tụng Ngài, nói lên rằng: triều đại Ngài vinh hiển, xưng tụng Ngài là Đấng quyền năng, để nhân loại được tường những chiến công của Chúa, và được biết triều đại Ngài rực rỡ vinh quang” (Tv 145:8-12).

Chẳng có ai khác hoặc thần linh nào khác, mà chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử, Ngài “đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên” (1 Sm 2:6; Kn 16:13), Ngài “bắt phải nghèo và cho giàu có, hạ xuống thấp và nhắc lên cao” (1 Sm 2:6-7). Nghe có vẻ “oải” quá! Nhưng không phải vậy đâu. Ngài vẫn “thành tín trong mọi lời Ngài phán, và đầy yêu thương trong mọi việc Ngài làm. Ai quỵ ngã, Ngài đều nâng dậy, kẻ bị đè nén, Ngài cho đứng thẳng lên” (Tv 145:13-14). Thánh Vịnh gia đã trải nghiệm và chân thành tạ ơn: “Lạy Chúa, từ âm phủ Ngài đã kéo con lên, tưởng đã xuống mồ mà Ngài thương cứu sống” (Tv 30:4). Đúng là Hồng Ân chồng lên Hồng Ân nhờ đức tin quyện vào đức mến và đức cậy. Quả thật, tri ân Thiên Chúa là điều hoàn toàn hợp lý!

Tuy nhiên, trong cuộc sống của mỗi chúng ta lại thường xuyên có động thái trái ngược, biết mà không làm. Thế mới chết! Do đó, Chúa Giêsu đã phải cảnh báo: “Tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn” (Mt 26:41; Mc 14:38). Thân xác thật nặng nề, nặng hơn đá đeo! Chúng ta vẫn lòng chai dạ đá, “máu” lắm, bởi vì chỉ “ưa thích chuyện hư không, chạy theo điều giả dối” (Tv 4:3).

Với kinh nghiệm “xương máu”, Thánh Phaolô chia sẻ: “Vì tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn” (Gl 5:17). Thần Khí Chúa rất quan trọng trong đời sống chúng ta, vì chính Chúa Thánh Thần đã tác động và biến đổi chúng ta, như Thánh Phaolô nói: “Anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối, bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em. Ai không có Thần Khí của Đức Kitô thì không thuộc về Đức Kitô” (Rm 8:9).

Một cách cặn kẽ hơn, Thánh Phaolô giải thích: “Nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới. Vậy thưa anh em, chúng ta mang nợ, không phải mang nợ đối với tính xác thịt, để phải sống theo tính xác thịt. Vì nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em thì anh em sẽ được sống” (Rm 8:11-13). Quả thật, chúng ta luôn là “con nợ” của Thiên Chúa và tha nhân. Nhưng mặc dù là “con nợ” cũng vẫn phải biết ơn, bởi vì mắc nợ cũng là một dạng mang ơn vậy. Thọ ân thì phải tri ân. Lẽ tất nhiên thôi!

Đối với Thiên Chúa, Hồng Ân lớn nhất mà chúng ta mắc nợ Chúa Giêsu, và phải tri ân Ngài, đó là ơn cứu tử của Ngài dành cho chúng ta, điều mà chính Chúa Giêsu đã minh định: “Tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10:15). Vâng, chính cái chết của Ngài là Hồng Ân cao cả, không gì sánh bằng, và chẳng bao giờ chúng ta có thể đền ơn đáp nghĩa cho cân xứng. Nhưng Ngài không đòi hỏi gì nhiều ở chúng ta, mà Ngài chỉ cần chúng ta biết tin yêu Ngài và biết cảm tạ Ngài trong mọi hoàn cảnh – dù vui hay buồn, dù sướng hay khổ, dù hên hay xui. Điều kiện có khó gì đâu, thế mà chúng ta vẫn chỉ “hứa lèo”, có máu di truyền của Chú Cuội, hứa nhiều mà giữ chẳng bao nhiêu. Thiết tưởng cũng nên tự trách: “Tôi tồi tệ thật!”.

Về động thái tri ân, chính Đức Giêsu đã làm gương cho chúng ta khi Ngài cất tiếng tạ ơn Chúa Cha: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (Mt 11:25-26). Ngài là Sư Phụ hiền lành và khiêm nhường (Mt 11:29) nên Ngài chỉ thích những con người “hèn mọn” mà thôi. Chắc chắn là thế!

Sau khi dâng lời tạ ơn, Chúa Giêsu cho biết: “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho” (Mt 11:27). Ai khiêm nhường thì Ngài sẽ mặc khải cho những điều bí ẩn. Chắc chắn như vậy. Và Ngài luôn mời gọi mọi người, không trừ ai: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11:28-30).

Quả thật, ách của Ngài là ách êm ái, gánh của Ngài là gánh nhẹ nhàng. Không ai lại không vất vả và mang gánh nặng nề, không cách này thì cách khác, dù theo nghĩa bóng hoặc nghĩa đen, có nghĩa là không ai lại không cần đến Ngài để được Ngài nâng đỡ. Cuộc đời có rất nhiều thứ chúng ta phải “gồng mình” mà chịu đựng, thậm chí có những lúc chúng ta cảm thấy mệt mỏi và hầu như kiệt sức. Cái ách thô ráp và cái gánh nặng trĩu ở đâu cũng có, dù trong gia đình hoặc cộng đồng tu trì. Nhưng có lẽ chúng ta chưa thực sự kề vai vào gánh vác Ách và Gánh của Chúa Giêsu nên chúng ta vẫn thường “than” đủ thứ, “thở”đủ điều, và “trách” đủ kiểu. Thế mới biết phàm nhân yếu hèn và khốn nạn quá sức, vậy mà vẫn “chảnh” lắm, lúc nào cũng chỉ rình nổi loạn mà thôi!

Đối với mỗi chúng ta, được sinh ra làm người là một đại ân, được có vóc dáng và tâm trí bình thường lại là một đặc ân nữa, được lành lặn và khỏe mạnh lại thêm một đại ân nữa. Hôn thế nữa, chúng ta lại được Chúa Giêsu cứu độ, đó là một đặc ân cao cả khác nữa. Ơn chồng lên ơn. Quá nhiều. Như vậy, chúc tụng và tạ ơn là một trong các bổn phận ưu tiên hàng đầu mà chúng ta phải thực hiện đối với Thiên Chúa. Có nhiều cách thể hiện, một cách đơn giản là tránh tội: “Hãy run sợ, và đừng phạm tội nữa, trên giường nằm, suy nghĩ và lặng thinh” (Tv 4:5). Một cách khác cũng đơn giản là ca hát: “Hãy cùng nhau đối đáp những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa”(Ep 5:19).

Tương tự, con cái không thể nào trả hiếu cho cha mẹ, và cha mẹ cũng không đòi hỏi gì nhiều, chỉ cần con cái ngoan ngoãn là trả hiếu rồi.

Thật chí lý khi ca dao Việt Nam nhắn nhủ: “Ai mà phụ nghĩa quên công / Thì đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm”. Quả thật, lòng biết ơn rất quan trọng, dù chúng ta đang đứng trên đỉnh núi Ta-bor hoặc Can-vê. Thật dễ tạ ơn khi phấn khởi đứng trên đỉnh Ta-bor, nhưng rất khó tạ ơn khi ủ rũ sầu thảm trên đỉnh Can-vê. Hằng ngày, một lời cảm ơn rất đơn giản nhưng lại rất thường bị lãng quên! Cuộc đời chúng ta phải là bản “trường ca tri ân” vô tận, đối với ai cũng vậy mà thôi. Trong đó có những “nốt tình” khác nhau về trường độ và cao độ, mỗi “nốt” có vị trí khác nhau nhưng vẫn luôn hài hòa để tạo thành bản tổng phổ hoàn chỉnh để ca tụng Lòng Thương Xót bao la của Thiên Chúa dành cho chính mình, cho gia đình, và cho tha nhân.

Tri ân có thể là đền ơn. Việc đền ơn nên luôn được sử dụng trong cách hành xử. Theo nghiên cứu tâm lý, người ta cảm thấy hạnh phúc hơn nếu biết ơn về những điều tích cực trong cuộc sống (tức là những gì mình có) hơn là cứ lo lắng về những gì mình không có.

Nhà từ thiện William Clement Stone (1902-2002, Hoa Kỳ) đặt vấn đề: “Nếu thực sự có lòng biết ơn, bạn sẽ làm gì? Hãy chia sẻ với mọi người”. Còn nữ tác giả Betty Smith (1896-1972, Hoa Kỳ) xác định: “Quan tâm tới mọi việc xung quanh cho dù đó là gặp lần đầu hay lần cuối, và rồi cuộc sống của bạn sẽ trở nên hạnh phúc”. Cuộc sống vốn dĩ nhiêu khê vì bao nỗi khổ, thế nên hãy đơn giản hóa và đi xuyên qua đau khổ để gặp được hạnh phúc ngay trong tâm hồn của mình, và như thế sẽ gặp được Thiên Chúa, Đấng là Nguồn Hạnh Phúc.

Lạy Thiên Chúa, con thật tồi tệ, bởi vì đã bao lần con vô ơn bội nghĩa với Ngài và với tha nhân. Con thành tâm xin lỗi Ngài. Xin ban thêm cho con được dồi dào ba đức đối thần và các đức đối nhân để con thanh thản bước đi khi vác thập giá hằng ngày, xin giúp con đủ sức lên tới đỉnh Can-vê. Xin giúp con thể hiện tình yêu thương và tâm tình tri ân Ngài qua mọi người để con khả dĩ hoàn thiện như Ngài. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

 

6. ÁCH CỦA CHÚA THÌ ÊM ÁI

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Sống trong một thế giới mà người nghèo, kẻ yếu, người bị áp bức luôn phải lo lắng, vật lộn với cuộc sống đầy vất vả. Không những thế, họ còn bị đồng loại chất lên vai những gánh nặng trong khi những người kia lại chẳng buồn đưa lấy một ngón tay để nhấc những gánh nặng ấy. Lời mời gọi của Đức Giêsu “hãy đến với Ta” thật ý nghĩa và đầy nguồn an ủi cho những ai vất vả mang gánh nặng nề. Đến với Chúa Giêsu, gánh nặng sẽ vơi đi, mang ách của Người ta sẽ cảm thấy thoải mái nhẹ nhàng, vì ách của Chúa là ách của tình yêu và tha thứ. 

Lời Chúa Giêsu thân thưa với Cha Người: “Lạy Cha là Chúa trời đất, Con xưng tụng Cha, vì Cha đã giấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết những điều ấy, mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn” (Mt 11,25). Chúa Giêsu hứa ban cho tất cả “sự bổ sức”, nhưng đặt một điều kiện, đó là: “Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng” (Mt 11,29). Cái “ách đó” là gì, mà thay vì đè nặng thì lại làm vơi nhẹ, thay vì nghiền nát thì lại nâng lên ? ” Ách của Chúa Giêsu là luật của tình yêu thương, là giới răn mà Người đã để lại cho các môn đệ Người (x. Ga 13,34; 15,12). 

Nói đến cái “ách”, luật Dothái được xem như đặc quyền của họ, vì sự khôn ngoan là hồng ân của Thiên Chúa thể hiện trong sống hàng ngày. Chúa Giêsu coi mình như là sự khôn ngoan của Thiên Chúa và ban tặng những cái ách ấy cho ai đón nhận Người. Chúa Giêsu chính là mặc khải trọn vẹn về Thiên Chúa và ý muốn của Thiên Chúa cho con người. Người mời gọi: “Tất cả hãy đến với Ta, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng” hãy đến với Người, hãy tin vào Người, “Người sẽ nâng đỡ bổ sức cho ” (Mt 11,28). 

Ách, với mục đích là giúp con vật kéo cầy, kéo xe một cách dễ dàng. Cũng thế, khi chúng ta mang ách của Chúa Giêsu, Người không làm gì khác hơn là giúp đỡ chúng ta bớt đi những gánh nặng. Người mời gọi chúng ta đến mang lấy ách của Người, Người cùng vác ách với chúng ta. Chúa Giêsu mang ách ấy trước hết và đứng bên cạnh chúng ta. Khi hai người cộng tác với nhau kéo chung một cái ách, chắc chắn hơn một khỏe mạnh. Đó chính là điều Chúa Giêsu làm cho mỗi người trong chúng ta. 

Thật là lạ, Chúa Giêsu mời gọi kẻ khó nhọc đến với Người để được nghỉ ngơi dưỡng sức, nay Người lại trao thêm ách. Ách là một công cụ để làm việc. Ách là để thi hành một tác vụ, phục vụ Đức Kitô. Chúng ta có đón nhận cái ách mà Đức Giêsu ban cho hay không? Ách của Người không phải là gánh nặng nhưng là êm ái và nhẹ nhàng (x. Mt 11,30). Thánh Phaolô nói cái ách này sẽ dẫn chúng ta đến tự do, nên khi đón nhận cái ách của Đức Giêsu là chúng ta cũng đón nhận một người “cùng mang ách” với chúng ta.  

Ở đoạn trước trong Tin mừng Matthêu, Chúa Giêsu chúc phúc cho những ai “có tinh thần nghèo khó” (Mt 5,3) như thể đã có được nước trời làm sản nghiệp. Hôm nay, Đức Giêsu nói đến “những kẻ bé mọn” (Mt 11, 25) nghĩa là những người hèn mọn và khiêm nhường. Theo nghĩa Kinh Thánh, họ là những người không có uy thế, quyền lực, địa vị hay chức vụ cao sang, chẳng có gì để có thể khoe khoang. Vì thế, họ chấp nhận phó thác nơi Thiên Chúa mà không chút do dự hay kiêu hãnh giả tạo nào. 

Tiên tri Dacaria nói đến Vị vua Mêssia lên Giêrusalem cưỡi trên con lười con là con của lừa mẹ, nhắc lại rằng Chúa Giêsu liên kết với chúng ta, dưới ách nặng của sự khiêm nhường và dịu dàng, Người đã mang thân phận người như chúng ta, chịu khổ nạn để cứu chuộc chúng ta. Từ trên nơi cao thẳm, Người đã cúi xuống đất để nghe tiếng van nài, Người đã hạ mình xuống để giải thoát chúng ta khỏi chết. 

Chúa Giêsu đề nghị chúng ta mang lấy ách của sự khiêm nhường và hiền hầu, của niềm tin vào tình thương Thiên Chúa và phó thác trong tay Người, xin Người cứu giúp: “Trẻ trung thì mệt, thì mỏi, tráng đinh nghiêng ngả bổ nhào, song những ai trông vào Thiên Chúa, sẽ có sức mạnh luôn luôn đổi mới, chúng mọc cánh như những phụng hoàng; chúng chạy mà không mỏi, chúng đi mà không mệt” (Is 40,30-31). Thật hạnh phúc biết bao khi chúng ta đón nhận vào lòng sự hiện diện của Chúa, chúng ta sẽ tìm thấy liều thuốc bổ sức như lời Người hứa; và giảm bớt gánh nặng đè trên chúng ta, vì có Chúa vác đỡ chúng ta. 

Có người viện cớ hỏi: Vậy tại sao Thiên Chúa không cất đi gánh nặng nơi con người, giải thoát con người một lần cho tất cả các gánh nặng? Thưa là vì Ngài không muốn cứu chúng ta mà không có chúng ta. Thiên Chúa dành cho chúng sự tôn trọng và yêu thương trong lúc ấy. 

Chúng ta đang đứng trước một mầu nhiệm. Mầu nhiệm này là chỉ mạc khải cho những kẻ bé mọn nghĩa là những người không cậy dựa và sức riêng mình để tự cứu mình mà chỉ cậy dựa vào Chúa, những người không đặt an toàn vào sự hiểu biết nhân loại nhưng trong Người Con đã được mạc khải cho họ, bởi vì họ biết ngoài Người ra, họ không thể làm gì được.  

Niềm vui cả thể của con người là được gắn bó với Đức Kitô và phó thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa là Cha. Biết được Chúa Cha yêu mến, kết hợp với Ngài và tin tưởng vào Ngài như người con bé nhỏ đặt an toàn trong tay bố của mình.  

Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết khiêm nhường thật trong lòng, để chúng con được kể vào số những kẻ bé mọn của Tin Mừng, những người Thiên Chúa Cha hứa mạc khải cho biết mầu nhiệm Nước Trời.

Lạy Ðức Trinh Nữ Maria, Nữ Vương của lòng từ mẫu, xin giúp chúng con “ học” nơi Chúa Giêsu sự khiêm nhường thật, cương quyết mang lấy ách êm ái Người trao, để sống an bình nội tâm, và giúp chúng con an ủi các anh chi em khác đang mệt nhọc bước đi trên con đường cuộc sống. Amen.

 

7. HỌC SỐNG HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỢNG VỚI CHÚA GIÊSU

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Nhiều người cho rằng muốn trở nên hùng mạnh và thắng được người khác thì mình phải hung tợn hơn, tàn ác hơn, phải dùng sức mạnh để quật ngã, phải dùng khí giới để huỷ diệt và khủng bố kẻ thù… Nhưng suy nghĩ như thế là thiển cận và sai lầm.

Lịch sử loài người cho thấy những bạo chúa hung tàn bậc nhất như Nê-rô thời xưa, Hitler, Polpot thời nay hay bất kỳ một thế lực bạo tàn nào… tuy họ nắm được quyền lực trong tay và dùng bạo lực cường quyền để uy hiếp người khác, nhưng rốt cuộc, họ đều bị hạ bệ, bị người đời lên án và chuốc lấy thất bại não nề. 

Trong khi đó, lịch sử đánh giá rất cao những con người hiền lành, khiêm nhượng, ôn hoà bất bạo động như Mahatma Gandhi, Martin Luther King và nhiều hiền nhân khác đã biết dùng sự hiền hậu, dịu dàng để chiến thắng sự hung bạo một cách hiệu quả và vẻ vang. Nhân loại qua bao thời vẫn nhìn nhận họ là những bậc vĩ nhân đáng ngưỡng mộ, biết dùng “nhu để thắng cương”, biết “dụng nhược để thắng cường” (Lão Tử). 

Thế nên, mặc dù Chúa Giê-su có rất nhiều phẩm chất cao đẹp đáng nêu gương, nhưng phẩm chất đầu tiên mà Ngài kêu gọi mọi người nên học với Ngài là đức tính hiền hậu và khiêm nhường. Qua Tin mừng Mát-thêu chương 11 câu 29, Chúa Giê-su mời gọi: “Hãy học với tôi vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhượng.” (Mt 11, 29) và “Phúc thay ai hiền lành vì họ sẽ được Đất Nước làm cơ nghiệp” (Mt 5, 4). 

Hiền hậu là lợi khí của người khôn

Trong vườn Dầu, khi Phê-rô tuốt gươm ra để bảo vệ Chúa trước đám đông binh lính xông đến bắt Ngài, Chúa Giê-su bảo ông: “Hãy xỏ gươm vào bao. Ai dùng gươm sẽ phải chết vì gươm.” (Mt 26,52)

Bạo lực không là giải pháp khôn ngoan, nên người khôn không bao giờ dùng bạo lực để kháng cự bạo lực, không dùng hận thù để trả đũa hận thù, nhưng biết dùng tính khiêm nhường hiền hậu để ứng xử với mọi người, ngay cả khi bị người khác đối xử tàn ác, thô bạo với mình. 

Khi búa tạ tấn công vào đá; đá sẽ dùng sự cứng rắn của mình để kháng cự lại nên bị vỡ tan. Đá thất bại hoàn toàn. 

Khi búa tấn công nước; nước sẽ dùng sự mềm mại dịu hiền của mình để đối lại. Bằng cách nầy, nước không hề bị sứt mẻ hư hao, còn búa thì bị chìm lĩm xuống tận đáy bùn! Thế là nước thắng lớn, búa thua to. 

Khi búa hung hăng đập vào tường; bức tường sẽ dùng sự cứng rắn của mình chống lại sự thô bạo của búa; thế là bức tường cao sẽ bị sập xuống. Tường thất bại. 

Thế nhưng, khi búa đập vào bức màn; tấm màn sẽ dùng sự dịu dàng của mình né tránh sự thô bạo của búa. Màn bình yên vô sự, còn búa sẽ bị mất thăng bằng và bị lao vào khoảng không. Thế là màn chiến thắng. 

Như thế, với tấm lòng hiền hậu, khiêm nhường, dịu dàng, mềm mại… người ta có thể thắng được sự thô bạo, hung hăng của người khác. 

Ngoài ra, với đức tính khiêm nhường hiền hậu, người ta không chỉ thắng được những lực đối kháng bên ngoài mà còn chinh phục được lòng người. Như nước luôn luôn chảy về chỗ trũng, thì lòng yêu thương quý mến của nhiều người khác cũng dồn về cho những người có tâm hồn hiền hậu, khiêm nhường. 

Gương hiền hậu, khiêm nhường của Chúa Giê-su

Trong cuộc khổ nạn, tấm gương hiền lành và khiêm nhường của Chúa đã được nêu cao: Mặc dù là Thiên Chúa quyền năng cao cả, là Con Một của Thiên Chúa Cha, Ngài đã chấp nhận cho người đời hèn mọn nhạo cười, phỉ báng, lăng nhục, khạc nhổ vào mặt, đánh đập tơi bời, lại còn chịu vác thập giá, chịu đóng đinh và chết ô nhục trên thập giá… mà vẫn không oán hờn hay kháng cự; hơn nữa, còn cầu xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ gây đau khổ cho mình. 

Lạy Chúa Giê-su, 

Khiêm nhường và hiền hậu là tính cách nổi bật nhất nơi con người và cuộc đời của Chúa. 

Khiêm nhường và hiền hậu là nhân đức được toả sáng trong cuộc thương khó của Ngài. 

Khiêm nhường và hiền hậu là một trong những bài học quan trọng nhất mà Chúa kêu mời chúng con phải học với Chúa từng ngày. 

Lẽ nào chúng con là những môn đệ đã chọn Chúa làm Thầy và là mẫu mực cho mình, lại gạt bỏ ra khỏi tâm hồn mình bài học quý báu nầy sao! 

Xin cho chúng con luôn noi gương bắt chước Chúa để sống khiêm nhường hiền hậu như Chúa đã nêu gương.

 

8. HÃY TỰ MANG LẤY “ÁCH” VÀ “GÁNH” CỦA MÌNH

JM. Lam Thy

Bài Tin Mừng hôm nay trình thuật Lời Đức Giê-su kêu gọi: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.” (Mt 11, 28-30). Theo từ nguyên thì “ách” có 3 nghĩa: *1- Đoạn gỗ cong mắc lên cổ con vật (trâu, bò, ngựa…), để buộc dây kéo xe, cày, bừa (vd: bắc ách, quàng ách vào cổ trâu, tháo ách); *2- Gông cùm, xiềng xích (vd: ách áp bức, ách đô hộ, ách kìm kẹp); *3- Tai hoạ, việc rắc rối phải gánh chịu (vd: “ách giữa đàng quàng vào cổ” (tục ngữ); ách giặc giã cướp bóc). Cả 3 nghĩa đều nói lên “ách” là một ép buộc, một tai họa từ bên ngoài đưa tới, chẳng ai muốn gánh chịu. Như vậy, Lời dạy của Đức Giê-su “ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” thì có gì là mâu thuẫn không?

Nếu tỉ mỉ tìm hiểu những Lời của Đức Giê-su mời gọi mọi người đến và đi theo Người, thì sẽ thấy tất cả đều khác hẳn (nếu không muốn nói là mâu thuẫn) với lời mời gọi nêu trên. Thật thế, Đức Giê-su thường răn dạy các môn đệ: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được.” (Mt 11, 38-39) ; “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” (Mt 16, 24); “Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi.” (Mt 19, 21)…

Đi theo Đức Giê-su phải sống và thực hành Lời dạy của Người như nêu trên, vậy mà gọi là “ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” được sao? Một vấn nạn nảy sinh: Chúa dạy “ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” thế thì tại sao Chúa vác thập giá của Chúa (cái ách, cái gánh của bản thân), sao lại nặng nề quá như vậy, nặng đến độ ngã xuống đất 3 lần, phải nhờ Si-mon vác đỡ?  

Vấn đề đặt ra là phải hiểu cây thập giá ấy do đâu mà có? Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa thật, chẳng chút bợn nhơ, nhưng vì vâng lệnh Chúa Cha, Người xuống trần mặc lấy thân xác yếu hèn của phàm nhân, gánh lấy tội lỗi loài người để cứu độ nhân loại; Người “đã làm việc bằng đôi bàn tay của con người, đã suy nghĩ với trí thông minh của con người, đã hành động với ý chí của con người, đã yêu thương với trái tim của con người.” (Hiến chế Mục Vụ về Giáo Hội “Gaudium et Spes”, số 22).

Vì thế với thân xác phàm nhân ấy, Người đã vác cây thập-giá-tội-lỗi-loài-người quá sức nặng nề đến nỗi phải quỵ ngã ba lần. Thập giá ấy không phải của Chúa, mà là của loài người đã chất lên vai Chúa; nên khi Người nói “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” là Người muốn dạy người tín hữu hãy tự gánh lấy tội lỗi của bản thân (thập giá của mình) – nói cách khác là nhìn lại mình mà ăn năn sám hối tội lỗi đã mắc phạm – kiên quyết đi theo con đường Thập-tự-Giêsu, thì sẽ được cứu rỗi (“nghỉ ngơi bồi dưỡng”). Lời mời gọi chân tình đó chính là “ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” vậy.  

Sở dĩ Chúa dạy như vậy, vì Người biết rõ tính xác thịt của con người rất là nặng nề, nặng nề nhưng lại quyến rũ hơn cả tinh thần hướng thượng (“thân xác dễ hư nát này khiến linh hồn ra nặng, cái vỏ bằng đất này làm tinh thần trĩu xuống.” – Kn 9,15). Con người không những đã chiều theo tính xác thịt, mà còn viện dẫn trăm ngàn lý do để bào chữa cho những hành vi mang tính xác thịt đó. Thánh Phao-lô đã cảnh báo: “Những ai sống theo tính xác thịt, thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt; còn những ai sống theo Thần Khí, thì hướng về những gì thuộc Thần Khí. Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an.” (Rm 8,5-6). Quả thật, theo Thầy thì rất muốn theo Thầy, nhưng bảo phải vác thập giá mình mà theo thì lại… buồn rầu bỏ đi một nước (giống hệt anh chàng thanh niên giàu có muốn theo Thầy Chí Thánh – Mt 19,16-22). 

Rõ ràng “Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy.” (Gl 5,19-21), nên “hướng đi của tính xác thịt là sự phản nghịch cùng Thiên Chúa, vì tính xác thịt không phục tùng luật của Thiên Chúa, mà cũng không thể phục tùng được.” (Rm 8,7). Điều đó cho thấy giữa “tính xác thịt” và Thiên Chúa luôn luôn đối lập nhau như ánh sáng và bóng tối: Thiên Chúa là ánh sáng ≠ tính xác thịt của con người là bóng tối. Vâng, “ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa” (Ga 3, 19). Ấy cũng bởi vì “ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách” (Ga 3,20).

Quả thật chỉ có “từ bỏ chính mình”, từ bỏ bóng tối, thì mới đi theo được Ánh Sáng Chúa Ki-tô. Muốn được vậy, phải cầu xin Thiên Chúa ban ơn soi sáng để sống theo Thánh Linh như lời khuyên của Thánh Phao-lô (Gl 5,16-18), ngõ hầu được trở nên những người con tự do (con cái ánh sáng) của Thiên Chúa. Sống đời Ki-tô hữu tốt đẹp là biết bước đi theo Thánh Linh, để Thánh Thần dẫn đưa. Có thể, người tín hữu học hỏi nhiều về Đức Ki-tô, nhưng vẫn chưa biết rõ về Người, chưa yêu mến và gắn bó với Người. Lý do là vì chưa bước đi theo Thần Khí của Người.

Cũng bởi vì Thánh Thần là Đấng nối kết chúng ta với Chúa Ki-tô và với anh em chung một niềm tin; Thánh Thần là Đấng Soi Sáng, Đấng Giải Thoát, Đấng Bảo Trợ đầy sức mạnh thần thiêng làm cho chúng ta không bao giờ mệt mỏi, mất sức trên hành trình thi hành sứ vụ; đồng thời mở lòng mở trí cho chúng ta, để chúng ta nhận ra ý muốn của Thiên Chúa, giúp chúng ta giải quyết tốt đẹp các vướng mắc, dạy chúng ta cách cư xử cho phù hợp với ơn gọi Ki-tô hữu. Thánh Thần còn là Đấng Hiệp Thông (Thánh Phao-lô gọi Người là Ơn Thông Hiệp). Tắt một lời, Thánh  Thần làm cho sự sống thần linh trong chúng ta triển nở và lớn lên, đạt tới tầm vóc viên mãn của Chúa Ki-tô (trở nên “đồng hình đồng dạng với Người” cách trọn vẹn).  

Chính là nhờ Thánh Thần, với Thánh Thần và trong Thánh Thần, mọi Ki-tô hữu cùng hiệp thông xây dựng Nhiệm Thể Chúa Ki-tô (Giáo Hội) bền vững và phát triển đến thiên thu vạn đại. Để được như vậy, người Ki-tô hữu hãy tiến bước theo Thánh Linh trên con đường dấn thân phục vụ: Phục vụ trong tinh thần hiệp nhất “nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần”; phục vụ vô vị lợi (phục vụ trong tinh thần “vị tha ”, hơn là “vị kỷ”); phục vụ trong khiêm tốn và thầm lặng (không khua chiêng gõ mõ, không “mồm loa mép giải”, không “ngồi trên tòa ông Mô-sê” hoặc “đứng ở ngã ba ngã tư”, “ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng…, ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc…” (Mc 23,1-36). Chung quy là hãy từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo Đức Vua Phục Vụ Giê-su Ki-tô.  

Cấp bậc cao nhất của việc từ bỏ chính mình là sẵn sàng hy sinh mạng sống khi việc phụng thờ Thiên Chúa và phục vụ tha nhân đòi hỏi. Từ bỏ sự sống mình theo như Đức Ki-tô đòi hỏi, biểu hiện trong thực tế bằng việc phấn đấu và nỗ lực hằng ngày, chấp nhận mọi hy sinh, gian khổ (vác thập giá mình) trong cuộc sống chứng nhân, sẵn sàng thực thi những chứng tá bác ái. Khi người tín hữu “thuộc về Đức Ki-tô Giê-su thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê” (Gl 5,24), thì đó chính là lúc người tín hữu đã chết đi hằng ngày để được cùng sống lại với Đức Ki-tô (“Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người.” – Rm 6,8). Chỉ có như vậy, người Ki-tô hữu mới thực sự được “nghỉ ngơi bồi dưỡng” tận hưởng “hoa quả của Thần Khí” (“Hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ.” – Gl 5,22-23).  

Tóm lại, đi theo Đức Giê-su thì tất cả cái ách là những gánh nặng, những gông cùm, xiềng xích của tội lỗi đè nặng trên bản thân sẽ được Người vác thay (“Chính Người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta. Chính Người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; Người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành.” (Is 53,4-5; Mt 8,17). Vì thế nên đi theo Đức Giê-su thì sẽ được hưởng cái “ách êm ái, gánh nhẹ nhàng” của Người. Chính hoa quả của Thánh Linh sẽ giúp người Ki-tô hữu hiểu rõ được Lời dạy của Đấng Cứu Thế.  

Khi đã hiểu rõ “nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới.” (Rm 8,11); người Ki-tô hữu hãy cầu xin Thiên Chúa ban sự sống cho bản thân, ban Thánh Thần để có đủ sáng suốt và dũng khí tiến bước theo Đức Ki-tô, để được hưởng hoa quả đầu mùa “ách êm ái, gánh nhẹ nhàng”. Vâng, “Những ai thuộc về Đức Ki-tô Giê-su thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê. Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước.” (Gl 5,24-26). 

Ôi! “Lạy Chúa, nhờ con Chúa hạ mình xuống, Chúa đã nâng loài người sa ngã lên, xin rộng ban cho các tín hữu Chúa niềm vui thánh thiện này: Chúa đã thương cứu họ ra khỏi vòng nô lệ tội lỗi, xin cũng cho họ được hưởng phúc trường sinh. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ CN. XIV/TN-A).

Các bài mới
Các bài đã đăng